Bỏ qua nội dung Bỏ qua thanh bên Bỏ qua chân trang

NGHỀ LÀM MẬT MÍA VÀ CÁC NGÔI CỔ TỰ XỨ ĐOÀI

DIỆU HỶ VICKY LE

 

Xứ Đoài nổi tiếng với nhiều ngôi cổ tự, trong đó có một loại hình nghệ thuật Phật giáo rất độc đáo là các động đất đắp. Các động này trải dài từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Động, thông thường chỉ trang trí chủ yếu một mặt, nhưng cũng có nơi động trang trí cả 4 mặt chiếm hết khuôn viên một gian điện thờ đó là chùa Sùng Nghiêm và chùa Đại Bi.

Chùa Sùng Nghiêm có tên Nôm là chùa Mía, tại xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ nay là phường Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Xưa kia, vùng đất này tên là kẻ Mía, nên tên chùa cũng gọi như vậy. Theo truyền thuyết, chùa này do bà Nguyễn Thị Rong là cung phi của chúa Trịnh Tráng (1623-1657) còn được gọi là bà chúa Mía cho xây dựng (thực ra chùa đã có từ trước đó). Dưới gác chuông vẫn còn tâm bia niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) nói về việc lập chợ trước cửa chùa. Theo tấm bia khắc năm Đức Long thứ 6 (1634) thì chùa được trùng tu năm 1632 do các cung tần phủ chúa là Nguyễn Thị Ngọc Rệu, Nguyễn Thị Ngọc Thạch và phu nhân Ngô Thị Ngọc Loan, đây là lần tu sửa lớn làm cho quy mô chùa rộng ra

Chùa Mía nổi tiếng số lượng tượng lớn gồm 287 pho . Ở đây,

1. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long –

Chùa Việt Nam

, NXB Thế giới, H, 2013, trg. 240

Chùa Việt Nam

, sđd, trg. 242

Động đất đắp

chùa Mía

có cả thảy 4 động đất đắp, động ngoài cùng ở tòa Tiền đường cạnh Hộ pháp Trừng Ác đối xứng với ban thờ bà chúa Mía. Động này, chủ đề là Quan Âm ngồi trong động Hương Tích thường thấy ở các chùa Bắc Bộ. Động chỉ trang trí 1 mặt ngoài. 3 động lớn nhất đều trang trí 4 mặt nằm ở Hậu đường lấy chủ đề về cuộc đời đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni từ xuất gia tu khổ hạnh đến thành đạo và nhập Niết bàn. Trong đó, động có tượng đức Phật khi thành đạo là lớn nhất và nằm ở gian giữa, pho Quan Âm tống tử nổi tiếng của chùa cũng nằm ở động này. 2 động còn lại đối xứng 2 bên, xen kẽ có các ban thờ Phật, Quan Công, tam tòa Thánh Mẫu.

Động chùa Mía ngoài các chủ đề trọng tâm là Phật, Bồ tát, thì xung quanh còn rất nhiều nhân vật khác như La hán, chư thiên, đặc biệt các góc đều có các Kim Cương, Hộ Pháp, Thiên Vương lớn trấn giữ, ngoài ra còn có một số loài vật như chim, hươu, rồng, khỉ trắng… rất sinh động.

Trang trí đặc trưng nhất của động chùa Mía mà không thấy ở các động khác tại Việt Nam, đó là loại hình nhũ đá ngũ sắc buông rủ như các cửa võng nhiều tầng nhiều lớp. Lối trang trí này, chúng ta sẽ thấy phổ biến tại các động bên Trung Hoa, mà chủ yếu là xung quanh tượng Quan Âm tọa sơn thời nhà Minh (1368-1644) điển hình như ở Ngũ Đài Sơn… Phía trên, chúng

tôi có đề cập đến ban thờ Quan Công ở cạnh các động, rõ ràng có một sự ảnh hưởng lớn từ văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa thời cuối nhà Minh ở ngôi chùa này. Có thể nói, đây là một trong những động Phật cổ đẹp nhất Việt Nam. Đây cũng là hệ thống động tiêu biểu cho giai đoạn Lê Trung Hưng (1533-1789).

Đến với ngôi chùa thứ 2, đó là chùa Đại Bi, tên Nôm là chùa Bãi, tại làng Quế Dương, còn gọi là làng kẻ Sấu, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Dương Hòa, thành phố Hà Nội.

Chùa không có niên đại khởi dựng nhưng trong chùa hiện lưu giữ 1 bệ đá hóa sen thời Trần (1226-1400), ghi niên đại hoàn thành bệ đá vào năm Long Khánh thứ 2 (1374), chứng tỏ chùa đã có ít nhất vào thế kỷ thứ XIV. Diện mạo hiện nay của chùa chủ yếu do đợt trùng tu vào thập niên 1940-1950. Kiến trúc chùa gồm 1 nhà Tiền đường 7 gian 2 chái dài 19,5m, có 3 gian chuôi vồ tạo hình chữ đinh 丁. Phía sau Thượng điện lại nối với nhà Hậu đường cũng hình chữ đinh 丁, tạo nên kết cấu chữ đinh kép nhìn từ phía trên cao như một chữ thổ 土. Tuy kiến trúc đã trùng tu nhiều lần, nhưng hệ thống tượng thờ ở đây được đánh giá là đặc sắc với hệ thống tượng lớn như người thật có niên đại trải dài từ thế kỷ XVII- XVIII đến tận thế kỷ XX, gồm các tượng phổ biến như Tam thế, Tam Thánh Tây Phương, Cửu Long, Quan Âm nhiều tay, Tuyết Sơn, Di Lặc, Hộ pháp, chúa Ông, Thánh tăng, Thổ địa, Giám trai…

Theo các cụ cao niên trong làng, thì xưa làng có 3 ngôi chùa là Đại Bi, Phổ Am, Vĩnh Phúc. Đến năm 1937, làng chuyển đình đến vị trí chùa Phổ Am, nên đã dỡ chùa chuyển đi chỉ giữ lại 1 gian 2 chái nhà để thờ đức chúa Ông. Còn chùa Đại Bi đến cuối thời Nguyễn đã chỉ còn quy mô khiêm tốn, nên nhà và đa số tượng chùa Phổ Am đã chuyển về đây, phần còn lại đã chuyển về chùa Vĩnh Phúc. Tại chùa Vĩnh Phúc sau còn lưu giữa hàng loạt tượng kích thước nhỏ, chứng tỏ chùa Phổ Am xưa đã có động

3. https://ditichlichsuduonghoa.vn/chua-dai-bi

đất đắp. Đến cuối niên hiệu Bảo Đại (1925-1945), thì làng lại đại trùng tu chùa Đại Bi xây thêm hạng mục và làm 2 động đất đắp cũng như sự kế thừa của động cổ ở chùa Phổ Am xưa.

Các động Phật của chùa nằm tại Hậu đường cao hơn Tiền đường khoảng 1 m, gian giữa thờ Phật và Mẫu tam, tứ phủ, 2 gian bên là 2 động đất đắp trang trí 4 mặt. Động bên phải có tượng trung tâm là Hoàng hậu Maya đang vịn tay vào cành sala cho Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh ra từ hông, phía trên có 9 con rồng phun nước và đức Phật ngồi trên cao. Động bên trái, nhân vật chính là Bồ tát Quán Thế Âm đứng trên mình 1 con rồng. Các tượng nhỏ vây quanh ở 2 động chùa Đại Bi đa dạng về chủng loại hơn chùa Mía, chủ đề ngoài Phật, Bồ tát, Thánh tăng, Hộ pháp, chư thiên còn có các nhân vật Đạo giáo, như Tam quan Đại đế, các thú cưỡi, cảnh trần gian và đặc biệt các cảnh ở địa ngục. Động ở đây đã phối thêm chủ đề của các động phủ Diêm vương để răn dạy người xem làm lành tránh dữ. Do xây dựng vào đầu thế kỷ XX khi Việt Nam trong liên bang Đông Dương, đã có sự tiếp xúc với khu vực, quốc tế nên động chùa Đại Bi thậm chí còn có hình ảnh đức Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền có vua rắn 9 đầu Muchalinda che mưa. Đây là tượng hầu như không có trong các

Động đất đắp chùa Bãi

chùa miền Bắc Việt Nam, mà chủ yếu ở miền Nam và các quốc gia theo hệ phái Nam tông, tượng hiện ở mặt sau động bên trái. Động ở chùa Đại Bi là động tiêu biểu cho thể loại động ở chùa vào thời Nguyễn (1802-1945).

Tuy cách nhau khoảng 3 thế kỷ, nhưng động đất đắp tại chùa Mía và chùa Bãi lại giống nhau về kết cấu chính, đó là tạo hình như một ngọn núi nhiều tầng lớp, ở giữa là tượng nhân vật trung tâm. Đặc biệt, dễ nhận thấy nhất là các góc động luôn có Hộ pháp to lớn như người thật trấn giữ tạo cảm giác rất chặt chẽ về mặt bố cục.

Một điểm chung quan trọng khác, đó là chất liệu xây dựng, phần lớn bằng đất đắp trộn vôi, mật mía (riêng chùa Mía thì có tượng ở trung tâm động bằng gỗ sơn son thếp vàng). Đây là hỗn hợp rất đặc trưng trong trang trí chùa Việt Nam từ xưa, đã được bảo tồn qua nhiều thế kỷ.

Theo Tiến sĩ Đinh Viết Lực, nguyên liệu chính của tượng đắp đất là đất sét sạch. Đất chọn làm tượng phải là đất sét lấy từ ruộng sạch, vì cửa Phật là nơi tôn nghiêm, thanh tịnh. Đất sét sau khi đào lên sẽ được đem phơi thật khô, đập nhỏ thành bột, sàng lọc kỹ, bỏ những hạt sạn. Khi bột đất đã mịn, thật mát tay mới dùng làm tượng. Bột đất sét được nhào trộn với nước vôi (đã lọc bỏ cặn vôi tạp), rễ si, mật mía, giấy bản, mùn cưa…

Trong các thành tố tạo nên hỗn hợp để tạo các động, chúng tôi thấy có mật mía là một mặt hàng khá có giá trị ở thời xưa, đôi khi nó được dùng để định giá cả các mặt hàng khác bằng cách quy giá trị ra bao nhiêu khuôn mật. Điều thú vị là cả 2 làng Sấu và Mía nơi có 2 ngôi chùa chúng ta đang tìm hiểu đều sản xuất mật mía.

Truyền thuyết làng kẻ Mía kể rằng vào thời vua Hùng thứ XVI, có cô công chúa tên Mỵ Ê thích dạo chơi dọc các con sông. Cô

4. Những cặp tượng Hộ pháp khổng lồ bằng đất sét trong chùa Việt – https://www. phattuvietnam.net/nhung-cap-tuong-ho-phap-khong-lo-bang-dat-set-trong-chua-viet/

gặp một loại cây như sậy, bẻ ra nếm thử thấy ngọt, bèn cho mọi người trồng dọc các bãi sông. Dân còn bảo nhau chặt về ép ra nước rồi đun lên thành mật ngọt. Tên công chúa được đặt cho cây mới lâu ngày đọc chệch thành Mía. Nơi trồng cây Mía đầu tiên đó chính là làng kẻ Mía. Từ đó, dân cứ đến mùa thu hoạch lại đua nhau ép mật, dựng lò nấu mật

Làng Quế Dương thuộc kẻ Sấu, thì có truyền thống vật và võ lâu đời nên mở chợ Sấu, vì đi buôn không sợ nạn cướp bóc. Ngoài ra, làng có nghề trồng dâu, dệt vải. Đặc biệt, bước sang thế kỷ XX, thì có thêm nghề làm mật mía đến mãi cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI ở đây vẫn còn nhiều lò nấu mật, sau đó làng lại chuyển sang làm nha, kẹo đến tận ngày nay.

Chúng ta dễ thấy nghề làm mật mía có lẽ cũng là một điều kiện giúp cho các làng này có thể làm được nhiều tòa động lớn như cả gian nhà vốn cần rất nhiều mật để làm nguyên liệu thi công. Điểm thứ hai nữa là bố cục động ở hai chùa khá giống nhau về đại thể nên có thể trong quá trình giao lưu buôn bán mía, mật hoặc học nghề mật thì các giá trị văn hóa Phật giáo làng xã cũng được học hỏi lẫn nhau, nên mới có sự trùng hợp như trên.

Các tòa động đất đắp tại chùa Sùng Nghiêm và chùa Đại Bi ở xứ Đoài là những di sản tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật độc đáo của nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XVI và XX cần được trân trọng bảo tồn và nghiên cứu nhiều hơn. Bên cạnh đó, việc một ngành nghề thế tục như ép mật mía có thể đóng góp và thúc đẩy những giá trị văn hóa Phật giáo cho chúng ta một ví dụ thực tế hơn về xã hội thế tục Việt Nam. Ở đó, có rất nhiều thứ rất bình dị nhưng nếu khéo léo ứng dụng vẫn có thể biến thành phương tiện tích lũy công đức.

5. Kiều Thu Hoạch,

Kẻ Mía đôi dòng tản mạn

, Tạp chí

Di Sản Văn Hóa

, số 2(15) – 2006, trg. 63 6. Trần Hưng,

Quế Dương vùng đất văn thần võ tướng

, https://trithucvn2.net/van-hoa/ que-duong-vung-dat-van-than-vo-tuong.html

Cảm nghĩ của bạn?
0Tuyệt vời0Tệ0Vui vẻ0Buồn
Chùa Phật học Xá Lợi

Chịu trách nhiệm xuất bản: Hòa Thượng Thích Đồng Bổn

Địa chỉ: 89 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP. HCM

Thời gian mở cửa

Thứ Hai - Chủ nhật
Sáng: 8:00 - 11:00
Chiều: 14:00 - 19:00

Theo dõi chúng tôi