KIÊU CĂNG MẤT PHƯỚC (PHẦN CUỐI)
HT THÍCH GIÁC TOÀN

(tiếp theo)
Các loại kiêu mạn
Trong Kinh Tăng Chi Bộ, chương 3, phẩm Sứ giả của trời phần Kiêu mạn, Đức Phật dạy có ba loại kiêu mạn: “Này các Tỳ- kheo, có ba loại kiêu mạn. Thế nào là ba? Đó là kiêu mạn của tuổi trẻ, kiêu mạn của không bệnh, kiêu mạn của sự sống. Này các Tỳ-kheo, kẻ vô danh phàm phu, làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, các ác hành về ý. Do làm các ác hành về thân, làm các ác hành về lời nói, các ác hành về ý, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, và địa ngục”
Trong cuộc đời, chúng ta thấy những người trẻ tuổi thường dễ sanh tâm kiêu mạn, nên Phật gọi là “Say sưa trong kiêu mạn của tuổi trẻ”. Họ kiêu mạn trong hành động, kiêu mạn trong lời nói, rồi còn kiêu mạn ở trong tâm ý. Chính vì thế mà họ làm các ác hành về thân, ác hành về lời nói, và ác hành về tâm ý. Họ không sợ ai hết, như trong dân gian có câu “Coi trời bằng vung”. Người tự kiêu, tự đại thường hành xử như thế. Là người học Phật, dù đang là Phật tử, hay là Tăng, Ni, chúng ta cố gắng tập luyện để tâm tánh được thuần thiện, thân được nhẹ nhàng, biết khiêm cung, nói năng lịch thiệp, tâm ý được lắng dịu. Lại có những người được khỏe mạnh, thấy người khác có nhiều bệnh rồi sinh lòng tự phụ, nghĩ rằng vì người kia không tu tập nên mới bị nhiều bệnh tật, còn mình biết tu, mình có phước nên hiếm khi bị bệnh, thế rồi sinh tâm kiêu mạn. Những người như thế được Đức Phật nhận định là “Say sưa trong kiêu mạn của không bệnh” Đúng là những người ít bệnh tật là những người có phước báu. Tuy nhiên, đừng vì không có bệnh tật mà sanh tâm kiêu mạn, xem thường người khác, khinh chê những người hay bị bệnh tật. Dù mình làm nhiều việc phước thiện, tích lũy được nhiều phước báu, nhưng không biết tu, thường sinh tâm kiêu mạn thì cũng bị đọa vào các đường ác. Như ông Đô Đề, dù có phước báu được giàu sang phú quý, nhưng vì tâm kiêu mạn mà sau khi chết đã bị đọa làm súc sanh, làm chó giữ của.
Và có những người gặp được nhiều may mắn, thuận lợi, thành công trong cuộc sống, rồi sanh tâm kiêu mạn, cho rằng mình tài giỏi hơn người khác, thành công hơn người khác. Những người như thế được Phật gọi là “Say sưa trong kiêu mạn của sự sống” Tất cả các loại kiêu mạn đều dẫn con người đến những kết cục không tốt đẹp trong đời này và đời sau. Cho nên là người học Phật, chúng ta phải biết tỉnh táo, nhận diện tâm kiêu mạn của mình để chuyển hóa và đoạn trừ dần dần. Dù trong hoàn cảnh nào, dù tuổi trẻ, tài cao, khỏe mạnh thì cũng phải luôn ý thức rằng, có được như thế là nhờ phước đức đã gieo tạo từ nhiều đời
nhiều kiếp và bây giờ cần phải giữ gìn, cần phải tiếp tục tu tập và gieo trồng những thiện nghiệp, làm những việc thiện lành, để căn lành ngày càng tăng trưởng, đường tu ngày càng tiến bộ hơn. Để khuyến khích hàng đệ tử tu học, đoạn trừ tâm kiêu mạn, trong Kinh Di Giáo, Đức Phật đã dạy: “Này các Tỳ kheo, hãy tự xoa đầu mình. Các vị đã từ bỏ đồ trang sức, từ bỏ đồ tốt đẹp, mình mặc áo hoại sắc, tay cầm đồ thích ứng, khất thực để sống, tự thấy như vậy mà kiêu mạn còn nổi lên thì phải cấp tốc tỏa chiết” (phần Đừng kiêu mạn). Ở đoạn kinh này, Đức Phật nhấn mạnh đến những người xuất gia, những người đã từ bỏ đời sống gia đình, sống đời phạm hạnh, mỗi ngày cầm bình bát đi khất thực, thọ nhận sự cúng dường thức ăn, nước uống, chỗ ở, thuốc men của bá tánh để sống như vậy mà vẫn còn tâm kiêu căng, ngã mạn, tự phụ, tự đại thì không thể chấp nhận được, cần phải nhanh chóng sửa đổi, phải chuyển hóa, từ bỏ tâm kiêu mạn ấy. Ngay với những người tại gia, là người tốt thì họ cũng biết tu nhơn dưỡng đức, không tự kiêu, tự đại, huống nữa là người xuất gia.
Tâm kiêu mạn nguy hiểm vô cùng, dù bộc lộ bên ngoài hay là hoạt động âm thầm bên trong, thì nó đều khiến cho tâm người tu hành bị ô nhiễm và gây chướng ngại con đường giác ngộ. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Thường Bất Khinh Bồ-Tát, thứ 20, Đức Phật cũng có dạy: “Vì sao tên là Thường Bất Khinh, vì vị Tỳ-kheo đó, phàm khi ngó thấy hoặc Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hoặc là Ưu-bà-tắc, hoặc Ưu-bà-di, đều tiến lại khen ngợi mà nói rằng: Tôi rất kính quý ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý ngài đều tu hành đạo Bồ-tát, đều sẽ đặng làm Phật. Vị Tỳ-kheo ấy thường không chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ thực hành sự thi lễ như vậy, đến nỗi, dầu thấy những người đằng xa, không kể Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni hay là Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đều cố đến mà thi lễ, ca tụng, thưa rằng: Tôi không dám khinh các người. Các người ai cũng sẽ làm Phật. Trong số người nghe, có kẻ nổi giận, tâm trí nhơ bẩn, độc miệng mắng nhiếc rằng cái ông Tỳ-kheo ngu xuẩn này, ở đâu
đến đây, không ai bảo mà cũng nói tôi không dám khinh thị các người và quyết đoán cho chúng ta rằng sẽ làm Phật. Chúng ta không cần đến sự quyết đoán viển vông như vậy. Mặc dù trải qua nhiều năm, thường bị mắng nhiếc như vậy, mà lòng không giận dữ, ngài Thường Bất Khinh vẫn luôn luôn nói rằng: Các người đều sẽ làm Phật”
Những ai chuyên trì tụng Kinh Pháp Hoa, thì chắc chắn đều biết đến ngài Thường Bất Khinh. Vị này có hạnh rất đặc biệt, luôn tôn kính tất cả mọi người. Chúng ta là những người đệ tử Phật, chúng ta hãy nương theo hạnh của Bồ-tát Thường Bất Khinh, tôn quý tất cả mọi người. Ngài Thường Bất Khinh nói tất cả mọi người đều sẽ thành Phật trong tương lai là điều hoàn toàn phù hợp. Chính Đức Phật cũng đã khẳng định: “Như Lai là Phật đã thành, các ngươi đều là Phật sẽ thành”. Cho nên, để đoạn trừ tâm kiêu căng, ngã mạn, không gì hơn là chúng ta phải luôn luôn tỉnh giác, canh chừng từng ý niệm khởi lên trong tâm, lấy tấm gương khiêm cung của Bồ-tát Thường Bất Khinh để nhắc mình mỗi giây mỗi phút và giữ gìn phẩm hạnh của người đệ tử Phật.
Ngày xưa, ngài Ngộ Đạt là một bậc cao Tăng đắc đạo, được vua kính trọng, thỉnh làm Quốc sư, mời vào hoàng cung thuyết pháp. Chỉ vì một chút ý niệm vi tế móng khởi trong tâm, Ngài hãnh diện và tự hào khi được vua ban cho chiếc ghế trầm hương mà phước đức mười kiếp tu hành mất sạch, lại còn bị quả báo mụt ghẻ mặt người nơi đầu gối hành hạ. Cái mụt ghẻ mặt người này vốn là những oan gia trái chủ của Ngài từ nhiều đời trước. Giờ nhân lúc Ngài khởi tâm kiêu mạn, các oan gia trái chủ đó mới có cơ hội để hiện ra báo oán. Ngài Ngộ Đạt là một bậc cao Tăng lúc còn là một vị Sa-di, Ngài đã nổi danh với câu nói: “Sa-di thuyết pháp Sa-môn thính” (tức là một vị Sa-di thuyết pháp mà vị Tỳ-kheo lại lắng nghe); thế mà Ngài còn nhận lãnh quả báo của sự kiêu mạn, tự cao như thế. Chúng ta là những kẻ phàm phu, phước mỏng tội dày, thì lấy gì để tự cao tự đại và khi khởi tâm tự
cao tự đại thì chắc chắn sẽ phải nhận lãnh những quả báo không tốt từ những nghiệp bất thiện của mình trong nhiều đời, kiếp quá khứ đã gây tạo. Quả báo của kiêu căng, ngã mạn rất nguy hiểm, không chừa một ai. Cho nên, chúng ta hãy soi vào tấm gương của ngài Ngộ Đạt Quốc sư để tự nhắc nhở mình, tinh tấn tu học, không để tâm kiêu mạn có cơ hội hoành hành, chi phối bản thân mình.
Trong kho tàng truyện cổ tích của Việt Nam có một câu chuyện cũng rất hay, rất phù hợp với chủ đề “Kiêu căng mất phước”, đó là câu chuyện “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” Truyện kể rằng:
Ngày xưa, có một người học trò nghèo nhưng học giỏi, được Thiên đình rất chú ý. Anh ta được ghi vào sổ Thiên tào là đậu tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư. Chính vì vậy mà mỗi lần anh học trò đi học, đi ngang qua một ngôi đền thờ thần ở làng bên cạnh thì pho tượng thần đang ngồi liền đứng dậy, cung kính chào anh học trò. Tại vì vị thần này vốn đã đọc sổ Thiên tào, biết là anh học trò kia sau này sẽ làm quan lớn, nên mới tỏ vẻ cung kính như thế.
Một hôm, người từ giữ đền nằm mơ thấy thần bảo: “Ngày mai ngươi phải quét dọn đền cho sạch sẽ, tử tế, vì có quan lớn đến chơi nhà ta”. Người từ làm y như lời và suốt ngày hôm ấy ông ta đứng trực ở cổng đền chờ đón vị khách quý của ông thần. Nhưng đợi mãi, ông chả thấy một ai cả, ngoại trừ anh học

trò nghèo hôm đó vô tình có ghé vào đền nghỉ chân một lúc. Ông từ cho là dân thường nên không để ý gì đến.
Ít lâu sau, ông từ cũng lại chiêm bao thấy ông thần dặn dò như trước. Lần này, ông ta cũng chẳng thấy ai, chỉ có anh học trò hôm nọ đến ngồi ngâm một bài phú rồi lại đi. Nhưng ông từ vẫn không tin. Lần thứ ba cũng thế. Bây giờ, ông từ mới cho là cậu học trò rất trùng hợp với lời thần dặn, bèn kể chuyện cho người học trò nọ nghe và bảo:
– Đã ba lần như thế, nên tôi chắc rằng nhà thầy sau này sẽ đỗ đạt, làm quan to chứ chẳng chơi.
Nghe nói, người học trò như mở cờ trong bụng. Anh ta quyết chắc cầm sự vinh hoa phú quý trong tay, rồi nghĩ ngợi rất nhiều về tương lai của mình. Một hôm, khi ngắm lại nhan sắc vợ mình, anh ta thấy không được đẹp tí nào cả. Thế rồi đêm hôm ấy nằm dưới bóng trăng, anh ta mơ tưởng một người đẹp như chị Hằng. Anh ta mới bụng bảo dạ rằng: “Rồi ta sẽ cho vợ ta về đi thôi! Một khi đỗ đạt thì thiếu gì nơi ngấp nghé muốn làm bà. Lúc đó, ta sẽ tìm những đám con vua cháu chúa, đã da trắng môi son lại vừa lắm của”. Nghĩ thế, qua ngày hôm sau hắn kiếm cớ gây sự với vợ và đòi bỏ cho kì được. Mọi người đều lấy làm lạ và tỏ vẻ khinh bỉ một người có học như hắn lại có thể nhẫn tâm đến thế được. Nhưng hắn chỉ cười khẩy mà không kể gì dư luận.
Một hôm, có người đến đòi nợ hắn. Vừa mới bước chân vào sân, người ấy đã bị hắn chỉ tay vào mặt mắng cho một trận:
– Ta chưa có trả. Không khéo nay mai ta sẽ cắm đất vào vườn ở của mày cho mày biết mặt.
Rồi hắn còn đe dọa nhiều người nữa. Gặp ai không vừa ý, hắn nói:
– Rồi chúng mày sẽ biết tay ông!
Tất cả những hành động của người học trò đều được tâu báo về Thiên đình. Ngọc Hoàng nghe nói rất phật ý. Cho nên ít lâu sau đó,
người từ giữ đền lại nằm mơ thấy ông thần tin cho biết là không phải kính sợ đối với người học trò nữa, vì trên Thiên đình đã xóa tên anh ta ra khỏi sổ Thiên tào rồi, không cho anh ta đỗ đạt nữa.
Ông từ hỏi thần:
– Tội của nó như thế nào?
– Nó bị kết án là “dưới trăng bỏ vợ, trước sân đòi nhà, chưa làm nên đã thất đức”. Bây giờ, nó không được hưởng phúc nữa.
Quả nhiên, người học trò đó thi mãi vẫn không đỗ, muốn nối duyên lại với vợ cũ cũng không được. Cửa nhà hắn ngày một sa sút dần. Do đó mà có câu tục ngữ: “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”
Quý vị thấy câu chuyện có vẻ hoang đường thần thoại, nhưng lại có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc, rất giá trị. Nói về thiên thần, quỷ vật tưởng chừng như hoang đường nhưng thật sự thì xung quanh chúng ta có rất nhiều cõi giới và nhiều loài chúng sinh khác nhau cùng đang tồn tại. Các vị thiện thần luôn luôn bên cạnh chúng ta. Khi chúng ta làm các việc tốt lành, phước thiện thì sẽ được chư Thiên, thiện thần phò hộ, bảo vệ cho mình. Chỉ cần chúng ta sống tốt, sống lương thiện thì đi đâu, làm gì cũng được bình an, thuận lợi; ngược lại, nếu mình làm điều bất nhân, bất nghĩa, bất thiện thì các vị thiện thần cũng không bảo vệ cho mình, mà sẽ bị mất phước và rước họa vào thân. Trong câu chuyện cổ tích “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”, anh học trò nghèo kiêu căng ngạo mạn, bất nhân, chưa là gì cả mà đã thị uy, hách dịch, cho nên đã bị xóa tên đỗ đạt làm quan khỏi sổ Thiên tào, phải sống đời cơ cực.
Kết luận
Như vậy, sự kiêu căng ngã mạn gây hại cho chúng sanh vô cùng. Cho nên, khi chúng ta đã biết được những tác hại của tâm kiêu căng, ngã mạn… đồng thời, chúng ta được phước duyên học hiểu những lời Phật dạy về nghiệp nhân, nghiệp quả trong đời,
hiểu được những nguy hại của tâm kiêu mạn trong đời này và đời sau, thì chúng ta hãy cố gắng thực tập lời Phật dạy, làm chủ và chuyển hóa dần dần tâm kiêu căng, ngã mạn của mình, để không bị đọa vào các đường dữ, không bị những quả báo bất thiện. Nhân đây, chúng tôi tặng quý vị bài thơ “Kiêu căng mất phước”
Làm người ngã mạn, kiêu căng
Bất ngờ tai nạn thường hằng, vãng lai
Càng kiêu mạn khổ đau hoài…
Nhân quả báo ứng mấy ai thoát nàn
Người khiêm hạ… luôn bình an
Niềm vui thường đến, tịnh nhàn thảnh thơi
Càng khiêm hạ càng đẹp, vui
Thêm nhiều hạnh phúc, xinh tươi trong đời.
Kinh Anh Vũ ghi duyên thời:
Anh Vũ Ma Nạp có người cha thân
Cả đời bố thí, trai tăng
Tạo nhiều công đức, phước phần nhân gian
Nhưng vì nghiệp thức kiêu căng
Tăng thượng mạn báo… như rằng như in
Chết sanh đọa khổ nhà mình
Làm con chó trắng ân tình náu nương
Đức Phật thiện sự khai đường
Anh Vũ Ma Nạp tỏ tường nghiệp duyên
Ông bèn thỉnh Phật pháp tuyên
Chỉ bày nhân quả hiện tiền chúng sinh
Cùng thọ thân tướng hữu tình
Có người cao thấp, xấu xinh… dữ hiền?
Người ít bệnh, người liên miên
Sống lâu, chết yểu… căn nguyên thế nào?
Có người đoan chính, thanh cao
Có kẻ tệ ác, ra vào khó thương?
Phật rằng: Ma Nạp tận tường
Tướng nam, tướng nữ… nghiệp vương tự lòng
Người nào tật đố bên trong
Ưa ganh tỵ, ưa ôm lòng hơn thua!
So đo, tự ái, a dua…
Tham lam, tranh chấp đẩy đưa nẻo làm!
Tác nghiệp đầy đủ khổ lâm
Thân hoại đọa khổ thậm thâm ác sầu!
Mãn kiếp địa ngục dài lâu
Nhân gian trở lại nối cầu bi thương
Thiếu phước hay bị khinh thường
Không oai đức, lắm tai ương não phiền.
Này Ma Nạp! Oai đức thiêng
Dù thân nam nữ… tánh hiền bên trong
Không tật đố, không dữ hung
Không ganh tỵ, không ước mong của người!
Thấy người được phước mình vui
Tình, tiền, danh, lợi ngọt bùi dửng dưng
Tác nghiệp đầy đủ mạng chung
Cõi Trời đắc thọ, cội tùng phước sanh
Mãn kiếp tái hiện nhân gian
Làm người oai đức muôn ngàn niềm vui.
Này Ma Nạp! Nam nữ người
Sanh dòng đê tiện ngậm ngùi khổ đau?
Do tánh mình lắm tự cao
Kiêu căng ngã mạn… lúc nào cũng ta
Người đáng cung kính lánh xa
Đáng quý, đáng trọng… lựa là ghét ganh
Đáng cúng dường, đáng tôn danh
Nhường lối, nhường chỗ… lại giành ngồi đi!
Đáng thăm hỏi, lễ bái thì…
Không lễ, không hỏi… vô nghì tín tâm
Tác nghiệp đầy đủ sai lầm
Mạng chung thân hoại ắt lâm khổ nàn!
Địa ngục quả báo vô vàn
Mãn kiếp tái hiện nhân gian thêm sầu!
Sanh dòng ti tiện lao đao
Bị người khinh miệt ra vào bi ai!
Này Ma Nạp! Lắng nghe này
Nhân duyên gì… được phước dày ngàn năm
Sanh dòng tôn quý đức tàm
Thân đẹp sang trọng hương trầm thơm bay
Không kiêu ngạo, không ỷ tài
Gặp người đáng kính trong ngoài kính tôn
Nhường chỗ, nhường lối một lòng
Cúng dường, lễ bái tịnh không chí thành
Tác nghiệp đầy đủ phước sanh
Mạng chung thân hoại thiên sanh cõi Trời
Hết phước trời, thọ thân người
Sanh dòng tôn quý đời đời an vui
Hiện thân nam nữ đẹp tươi
Năm điều phước báu thời thời tịnh danh.
![]()
