VU LAN, CÔNG ĐỨC NGƯỜI MẸ
THÍCH TRÚC BỔN THỊNH
Mùa Vu Lan lại về, mang theo tiếng chuông chùa ngân vang thanh tịnh và những đóa hoa hồng mang nhiều màu sắc, tượng trưng cho những cảm xúc khó tả: Cài lên áo những ai còn Mẹ, và dành cho những ai bất hạnh không còn Mẹ đóa hoa hồng trắng tinh.
Đối với một người xuất gia, ngày lễ Vu Lan không chỉ là mùa báo hiếu, mà còn là dịp để nhìn lại hành trình của mình từ thuở còn trẻ rũ bỏ y phục thế gian để khoác lên mình pháp phục nâu sồng. Đó cũng là hành trình thấm thoát đầy duyên lành từ những bước đầu chạm ngõ cửa Thiền.
Hành trình ấy được dệt nên từ đôi bàn tay tần tảo của người Mẹ, từ những bước chân Mẹ dẫn con đi chùa lúc đôi mươi, để rồi sau đó cũng chính người Mẹ mỉm cười gạt nước mắt tiễn con bước vào chốn Thiền môn – con đường mà Đức Thế Tôn Gautama đã tự mình đi tìm chân lý giác ngộ, giải thoát.
Lúc đó, tôi chợt hiểu câu thơ mà người xưa vẫn thường vịnh về tình Mẹ:
“Mẹ đưa con đến cửa Thiền
Chắp tay lạy Phật, rũ phiền lụy đi
Từ đây bóng mát Từ Bi
Chở che con trẻ hiểm nguy dòng đời”.
Vì thế, tiếng gọi “Mẹ” cảm thấy nó thiêng liêng nhất làm sao, là nơi bến đỗ bình yên của cuộc đời con trẻ. Tình mẫu tử không chỉ là bản năng tự nhiên, mà còn là cội nguồn của mọi điều thiện lành. Dù ở thời đại nào, lòng Mẹ vẫn luôn bao la như biển Thái Bình, che chở và nâng bước cho con qua cơn giông bão tố của cuộc đời.
Mẹ, người đưa con đến ánh sáng từ bi
Vì vậy, giữa những chông chênh của tuổi trẻ, mẹ đã nắm lấy tay tôi, dắt tôi bước qua cánh cổng tam quan Chùa Quan Âm Cổ Tự để tiếp cận đạo Phật. Những buổi hoàng hôn với chút ánh nắng lam chiều, bóng dáng người Mẹ đổ dài trên sân chùa, với mùi hương trầm lan tỏa theo cơn gió nhè nhẹ và tiếng gõ mõ tụng kinh đã chạm thấu vào tâm can tôi một cảm giác bình yên lạ kỳ.
Mẹ không giảng cho tôi những gì cao siêu, mà chỉ lặng lẽ gieo vào lòng đứa con thơ những hạt mầm thiện lành bằng chính sự thành kính của người. Mẹ vừa là người đồng hành, vừa là người thầy đầu tiên đưa tôi đến với bến bờ tỉnh thức.
“Mẹ hiền đưa tiễn cổng tam quan,

Lệ nhỏ hai hàng, dạ chứa chan.
Con bước đi theo đường Phật chỉ,
Độ mình, độ mẹ, độ nhân gian”
Bước ngoặt thiêng liêng
với chiếc áo nâu sồng và sự
buông bỏ vĩ đại
Với thời gian trôi qua chập chững học Phật tu học, hạt mầm xuất thế quy ngưỡng giáo pháp đã lớn mạnh trong tôi và duyên lành được Bổn sư Hòa thượng thượng Thông hạ Phương thế phát tại Trúc Lâm
Phụng Hoàng. Với duyên lành và ý chí đã vững chắc đủ để nhận ra được đâu là con đường đi đúng mà chư Phật đã vạch ra và đâu là dấu chân của Ma Ba Tuần đã mở, cho nên tôi đã đưa ra quyết định lớn nhất cuộc đời mình. Cuộc đời con người có hai lần rạng rỡ, thứ nhất là xuất giá và thứ hai là phát nguyện xuất gia. Đây là hai con đường mà phần đông ai cũng phải lựa chọn. Nhưng cũng tùy theo duyên nghiệp của mỗi người. Đối với tôi, duyên lành chắc cũng đã có nhiều đời bén rễ với Phật pháp, nên đời này tôi đủ thiện lành phát nguyện xuất gia, từ bỏ duyên trần để sống đời phạm hạnh.
Cuối cùng, ngày tôi xuống tóc khoác lên mình tấm y hoại sắc, tôi nhìn thấy khoé mắt người Mẹ đỏ hoe với quyết định của Mẹ, làm cho tôi nhớ lại câu chuyện:
Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), phẩm Đạo (Majjhima Nikaya – Kinh Trường Bộ) có ghi chép về bà Kisa Gautami.
“Thuở Đức Phật còn tại thế, Kisa Gautami vốn là một người phụ nữ nghèo khổ, có thân hình gầy gò (chữ “Kisa” có nghĩa là gầy gò). Sau khi lấy chồng, bà hạ sinh được một cậu con trai kháu khỉnh. Đứa trẻ là tất cả lẽ sống, là báu vật duy nhất giúp bà có vị trí và sự tôn trọng từ gia đình nhà chồng.
Nhưng bất hạnh thay, khi đứa trẻ vừa biết đi thì bỗng nhiên đổ bệnh rồi qua đời. Vì quá thương con và không thể chấp nhận sự thật tàn khốc này, Kisa Gautami hóa điên dại. Bà ôm chặt xác đứa con đã lạnh ngắt, đi gõ cửa từng nhà trong thành Xá Vệ (Savatthi) để xin thuốc cứu sống con mình. Mọi người nhìn bà đều lắc đầu thương hại, có người còn tưởng bà đã mất trí.
May mắn thay, một vị hiền trí đã chỉ đường cho bà: “Hãy đến gặp Đức Thế Tôn tại tịnh xá Kỳ Viên, Người có phương thuốc cứu con bà”.
Kisa Gautami ôm xác con lao đến sụp lạy dưới chân Đức Phật Gautama, khóc lóc cầu xin. Đức Phật nhìn bà bằng ánh mắt đại từ bi và ôn tồn bảo:
“Ta sẽ cứu được con của ngươi, nếu ngươi mang về đây cho Ta một nắm hạt cải. Nhưng với một điều kiện: Hạt cải đó phải được xin từ một gia đình nào mà từ trước đến nay chưa từng có ai chết”.
Mừng rỡ vì thấy hy vọng, Kisa Gautami ôm xác con chạy đi khắp thành phố để xin hạt cải.
Đến nhà thứ nhất, họ sẵn lòng cho bà nắm cải, nhưng khi bà hỏi: “Nhà ta đã có ai từng chết chưa?”. Họ trả lời: “Ôi, người sống thì ít mà người chết thì nhiều, ông nội tôi vừa mất năm ngoái”.
Bà chạy sang nhà thứ hai, thứ ba, rồi hàng trăm ngôi nhà khác… Câu trả lời bà nhận được đều tương tự: Có nhà vừa mất cha, có nhà mất mẹ, có nhà mất con, mất đầy tớ… Không có một gia đình nào trên trần gian này mà thần Chết chưa từng ghé thăm.
Khi hoàng hôn buông xuống, đôi chân đã mỏi rã rời nhưng trên tay không có một hạt cải nào, Kisa Gautami ngồi thụp xuống bên đường, nhìn ánh đèn thành phố thắp lên rồi lại tắt đi.
Ngay trong khoảnh khắc ấy, tâm trí bà bừng sáng. Bà nhận ra mạng sống của con người cũng giống như những ngọn đèn kia, lóe lên rồi vụt tắt, và cái chết là điều không ai có thể tránh khỏi. Bà không phải là người duy nhất chịu nỗi đau mất con, mà cả thế gian này đều đang chìm trong bể khổ của sinh ly tử biệt. Bà đem xác con vào rừng đặt xuống, rồi trở về đảnh lễ Đức Phật với một tâm thế hoàn toàn định tĩnh, không còn khóc lóc. Đức Phật hỏi: “Ngươi có mang được hạt cải về không?”. Bà thưa: “Bạch Thế Tôn, con hiểu rồi. Nắm hạt cải của Ngài đã chữa lành tâm bệnh cho con”.
Đức Phật liền thuyết cho bà nghe bài kệ về sự vô thường của mạng sống. Ngay sau đó, Kisa Gautami xin xuất gia vào Ni đoàn, tinh tấn tu tập và không lâu sau chứng đắc quả vị.
Qua câu chuyên trên đối với bà Kisa Gautami tìm đến Đức Phật khi đã chạm đáy nỗi đau, nhờ Đức Phật khai sáng để buông bỏ nỗi đau mất con mà đi tìm con đường giải thoát.
Nhưng đối với Mẹ tôi thì khác. Mẹ không đợi đến khi đau khổ tột cùng mới tìm đến Phật, Mẹ chủ động dắt tôi đi chùa và hoan hỷ hiến dâng đứa con bằng xương bằng thịt đang lành lặn, tràn đầy tương lai cho Tam bảo để đi đúng con đường giải thoát của Đức Phật Gautama.
“Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con mong được ngày mai thành tài
Nào ngờ con hướng Như Lai
Mẹ cười gạt lệ, tương lai cúng dường”
Đó không phải là giọt nước mắt của sự bi lụy, mà là sự giao thoa giữa niềm tự hào tột cùng nỗi lòng của người Mẹ tiễn con đi vào cửa Đạo. Mẹ hiểu rằng từ nay, đứa con bấy lâu mình nuôi dưỡng sẽ thuộc về mười phương Tăng, bước trên con đường cô độc nhưng lại thanh cao. Công lao nuôi dưỡng của người Mẹ giờ đây được cụ thể hóa bằng một tâm thế bao dung vĩ đại “Buông tay để con được sống cho lý tưởng cao đẹp nhất”
Hành trình hiện tại sống trọn vẹn dưới ánh sáng
Thích Ca
Thời gian trôi qua, thấm thoát cũng đã mười mấy năm rồi, từ ngày xuất gia với chiếc áo sồng nay đã sờn vai, tâm Bồ đề của người tu sĩ trẻ ngày nào đã thêm phần định tĩnh. Đi trên con đường Giới – Định – Tuệ mà Đức Từ Phụ Gautama đã vạch lối, làm cho tôi thấu hiểu giá trị của sự buông bỏ và tình thương vô điều kiện của người Mẹ.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), Chương II (Hai Pháp), Phẩm Tâm Thăng Bằng, Bài kinh số 11 (thường được gọi là Kinh Báo Hiếu hay Kinh Công Ơn Cha Mẹ). Đức Phật từng dạy cho các Tỳ kheo: “Có hai hạng người, này các Tỳ-kheo, Ta nói không bao giờ có thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha”.
Đức Phật giải thích thêm để các môn đồ thấy rõ sự bất lực của con cái khi báo đáp thâm ân bằng vật chất thế gian:
“Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một trăm năm cho đến khi trăm tuổi; nếu có xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, lau chùi và dẫu cho cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện ngay trên vai đi nữa, như vậy, này các Tỳ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho mẹ và cha.
Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, đã nuôi dưỡng, đã bón sữa, đã giới thiệu đời này cho con cái”.
Tuy nhiên, Đức Phật Gautama không dừng lại ở việc chỉ ra ơn sâu khó trả, Ngài đã vạch ra con đường duy nhất để một người con (đặc biệt là người xuất gia) có thể trả ơn cha mẹ một cách trọn vẹn và tối thượng nhất:
“Nhưng này các Tỳ-kheo, ai đối với cha mẹ:
Không có lòng tin (Chánh tín), khích lệ, hướng dẫn cha mẹ trú vào lòng tin.
Theo ác giới, khích lệ, hướng dẫn cha mẹ trú vào giới hạnh (Trì giới).
Có lòng bỏn sẻn, khích lệ, hướng dẫn cha mẹ trú vào bố thí (Thí xả).
Theo ác trí tuệ, khích lệ, hướng dẫn cha mẹ trú vào trí tuệ.

Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, như vậy là làm đủ, trả ơn đủ, trả ơn hơn đủ cho mẹ và cha”.
Vì thế, nói về công lao cha mẹ thì không thể để diễn tả được chỉ y theo lời dạy của bậc giác ngộ đã đi con đường không có hận thù, chỉ có trí tuệ và lòng từ bi vô hạn. Sự tu tập tinh tấn, chính là đóa hoa tươi thắm để trang nghiêm công đức của Mẹ.
Sau cùng, mùa Vu Lan năm nay, khói trầm lại quyện bay nhìn đóa hoa vàng thanh tịnh cài trên áo, lòng con lại nghẹn ngào khi nhớ nghĩ về mẹ. Càng đi sâu vào Giáo pháp, tôi càng nhận ra mọi ngôn từ thế gian này đều trở nên bất lực trước công lao biển trời của cha mẹ.
“Ví lấy đất trời làm giấy mực
Mượn nghìn bút biển chép ơn sâu
Chữ hiếu nghìn năm ghi chẳng hết
Lòng mẹ bao la, biết cạn đâu”.
Sau tất cả ngôn từ thế gian chẳng thể đo đếm hết biển người ân nghĩa. Nhân mùa hiếu hạnh, kính chúc mười phương chư Tôn đức Tăng, Ni pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, luôn là cây đại thụ che chở cho chúng sanh trên nẻo về tỉnh thức; xin cầu chúc hết thảy những người con hiếu thảo luôn giữ tấm lòng thành kính, thắp sáng ngọn đèn hiếu hạnh trong mỗi giây chánh niệm hiện tại. Cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được phước thọ tăng trưởng, trú phồn thiện xứ và cửu huyền thất tổ vãng sanh cảnh giới an lành. Nguyện cho đóa hoa hồng vàng của sự giải thoát và đóa hồng đỏ của tình mẫu tử mãi thắm tươi trong tâm hồn chúng ta.
“Vu Lan khói quyện tiếng chuông đưa
Tâm hiếu ngàn năm vẫn như xưa
Cúi xin Tam bảo thùy soi chiếu
Độ mẹ cha hiền nẻo nắng mưa”.
NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT MA HA TÁT.
![]()
