NGHỊCH LÝ CHỮ BIỂU Ý
NGUYỄN HẢI HOÀNH

Đóng góp của chữ Hán
đối với tiếng Việt
dưới góc nhìn từ
Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, các vương triều phong kiến Trung Quốc đã không ngừng tiến hành đồng hóa ngôn ngữ của dân tộc ta, nhưng rốt cuộc chẳng những mục đích ấy bất thành mà ngôn ngữ viết của họ – chữ Hán còn vô hình trung trở thành nhân tố chủ yếu đóng góp quan trọng vào việc phát triển ngôn ngữ Việt Nam nói riêng
và nền văn minh Việt Nam nói chung. Dưới đây chúng tôi mạo muội đưa ra và thử vận dụng khái niệm “Nghịch lý chữ biểu ý” (The paradox of ideography) để tìm hiểu hiện tượng có vẻ trái lẽ thường kể trên. Do lĩnh vực ngôn ngữ học cực kỳ rộng lớn, phức tạp, việc xem xét tình hình ngôn ngữ mấy nghìn năm trước chẳng khác gì việc “Thầy bói sờ voi”; và do trình độ hạn chế của tác giả, bài viết này không tránh khỏi có sai sót, mong được mọi người chỉ bảo. Cũng xin nói trước là một vài quan điểm trong bài có thể khác với quan điểm chính thống hiện có ở ta – đây là hiện tượng bình thường trong ngành khoa học xã hội – nhân văn.
Đặc điểm chữ tách rời ngữ âm và tính biểu ý của
chữ Hán
Giới ngôn ngữ học từng tranh cãi nhiều về việc F. de Saussure phân loại chữ Hán là chữ biểu ý. Quan điểm phản biện nói chữ Hán không thuần túy biểu ý mà cũng có tính biểu âm: Hơn 80% chữ Hán được cấu tạo theo nguyên tắc Hình thanh, là loại chữ có thành phần biểu ý và thành phần biểu âm. Tuy nhiên, khi ngữ âm tiếng Hán biến đổi theo thời gian, phần “Thanh” thường biến đổi theo và biểu âm không chính xác, để mất chức năng ghi âm ban đầu, trong khi phần “Hình” (Bộ thủ) vẫn giữ vững chức năng biểu thị phạm vi ý nghĩa của chữ. Điều này càng làm nổi bật tính biểu ý của chữ Hán trong lịch sử.
Châu Hữu Quang gọi chữ Hán là “chữ ý-âm” (ideo-phonogram). Lã Thúc Tương gọi là “chữ ngữ tố” (logogram, chữ ghi từ); với ngữ tố (morpheme) là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất kết hợp âm và nghĩa. Tô Bồi Thành nói chữ ngữ tố chính là chữ biểu ý mà chữ Hán là đại biểu
Dù cách gọi khác nhau nhưng tất cả đều thấy rõ chữ Hán có hiện tượng kết cấu chữ tách rời tương đối chữ với âm đọc (script- 苏培成“二十世纪的现代汉字研究”,书海出版社, 年
speech decoupling) – hiện tượng này tạo nên tính biểu ý của chữ Hán: Chữ viết không lệ thuộc âm thanh; chữ và âm không phải là một khối thống nhất, giữa chữ với âm có mối quan hệ lỏng lẻo, hình thể chữ chỉ thể hiện ý nghĩa mà không thể hiện bất cứ ngôn ngữ nói nào, kể cả tiếng Hán.
Sự tách rời chữ-âm vừa là nguồn gốc của những ưu điểm độc đáo, vừa là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm hiệu quả sử dụng của chữ Hán, là một trong những đặc điểm quan trọng nhất tạo nên tính biểu ý và sức sống lâu đời của chữ Hán, làm cho nó đứng riêng một mình một cõi, khác hẳn hệ chữ biểu âm (phonogram, có kết cấu chữ viết gắn chặt với ngữ âm). Sự tách rời chữ-âm làm ra “Nghịch lý chữ biểu ý”, nói lên mâu thuẫn giữa bản chất với hiệu quả vận hành trong đời sống xã hội của chữ Hán: Chữ viết mang tính biểu ý có ưu điểm truyền tải ý nghĩa vượt không gian và thời gian, nhưng lại tạo ra sự tách rời chữ với tiếng nói, khiến việc học đọc/viết chữ Hán trở nên rất khó khăn, vì người học không thể nhìn chữ để đoán âm.
Thiển nghĩ, có thể định nghĩa chữ Hán là chữ ngữ tố có đặc điểm chữ viết tách rời tương đối với ngữ âm. Mỗi chữ Hán là một hình khối vuông đại diện cho một khối tích hợp ba thứ: Hình thể, Ý nghĩa và Âm tiết.
Trong hệ thống chữ có tính biểu ý, hình thể chữ chỉ biểu đạt ý nghĩa chữ mà không gắn liền với một âm đọc nào, không thể hiện bất kỳ tiếng nói nào. Mọi thay đổi về ngữ âm đều không làm thay đổi chữ viết. Nhờ có tính biểu ý, chữ Hán vừa là công cụ thống nhất văn hóa, thống nhất dân tộc Trung Quốc, vừa là chữ viết vượt qua được trở ngại lớn nhất của Hán ngữ – hiện tượng có quá nhiều từ đồng âm (homophones) và phương ngữ (dialect). Kết cấu tách rời chữ – âm còn cho phép ba dân tộc Nhật, Triều/ Hàn, Việt thời xưa dùng chữ Hán làm chữ viết chung.
Lịch sử đã chứng minh tính tất yếu của chữ viết có tính biểu ý đối với Hán ngữ. Từ cuối thế kỷ XIX Trung Quốc có phong trào
nghiên cứu làm một loại chữ Pinyin Latinh hóa có thể dùng như chữ Hán, nhưng nghiên cứu này bất thành; chữ Hán vẫn có vai trò như cũ. Phương án Pinyin Hán ngữ dùng chữ Latinh ban hành năm 1958 chỉ để phiên âm chữ Hán mà không thể dùng như một loại chữ viết. Điều đó, chứng tỏ cho tới nay, chữ Hán có lẽ là loại chữ viết thích hợp hơn cả với Hán ngữ; chủ yếu do nó có kết cấu tách rời chữ viết với ngữ âm
Người Việt làm ra âm Hán – Việt để tiếp nhận chữ Hán
Lý Như Long nói: Vì chữ Hán chủ yếu có tính biểu ý và biểu âm không chính xác, cho nên nó được các ngôn ngữ khác ngữ hệ mượn dùng làm ký hiệu chữ viết của họ. Tất nhiên, chữ mượn về ấy phải được đọc bằng ngôn ngữ nói của họ. Như vậy, nghĩa là tính biểu ý cho phép đọc chữ Hán bằng tiếng của ngôn ngữ khác Tiếng Hán thuộc ngữ hệ Hán – Tạng (Sino – Tibetan), tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), tiếng Nhật và Hàn tạm xếp vào ngữ hệ Altai. Ba xứ trên đều đọc chữ Hán bằng tiếng nói của dân tộc mình và mượn chữ Hán làm chữ viết.
Tổ tiên ta đã tận dụng đặc tính biểu ý của chữ Hán, tức đặc tính chữ tách rời âm, để mượn hình và nghĩa của chữ nhưng đọc chữ Hán bằng một hệ thống ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán – Việt, từ đó sinh ra từ Hán – Việt. Âm Hán – Việt là âm tiếng Việt có gốc Hán, dùng để đọc chữ Hán. Nói chung, mỗi chữ Hán đơn âm ứng với một từ Hán – Việt. Như vậy, chữ Hán được Việt hóa phần ngữ âm
Đọc chữ Hán bằng âm Hán – Việt là sự kiện quan trọng nhất làm thay đổi đời sống ngôn ngữ của dân tộc ta. Về sau, dân ta gọi chữ Hán đọc âm Việt là chữ Nho; thứ chữ này chỉ khác chữ Hán ở âm đọc, còn lại hoàn toàn như nhau. Người Trung Quốc xem hiểu chữ Nho nhưng nghe đọc chữ Nho, tức nghe âm Hán – Việt,
2. Nguyễn Hải Hoành:
“Chân trời ngôn ngữ”
, Nxb Văn hóa dân tộc, H, 2024.
李如龙:”汉字的历史发展和现实观照”,光明日报
thì không hiểu. Chữ Nho là ký tự ghi từ Hán – Việt. Người biết chữ Nho có thể bút đàm với người biết chữ Hán. Cho tới đầu thế kỷ XX, chữ Nho được phổ cập tới mức có nơi dân ta gọi là “chữ ta” “chữ Việt Nam”
Âm Hán – Việt làm ra để giúp dân ta học chữ Hán trong tình cảnh khó khăn: Người Trung Quốc đọc chữ Hán theo nhiều phương ngữ khác nhau, khiến người học không biết nên đọc thế nào; vả lại thanh quản người Việt khó phát âm được nhiều âm tiếng Hán. Vì khi đọc chữ Hán bằng âm Hán – Việt, thì người Việt sẽ không đọc bằng tiếng Hán, cho nên việc tạo ra âm Hán – Việt đã vô tình cản trở chính sách Hán hóa tiếng Việt. Vì thế, có thể phỏng đoán âm Hán – Việt là do người Việt làm, bởi lẽ người Hán không có lý do làm việc đó. Phỏng đoán này trái với quan điểm của Vương Lực, v.v…, ở đây nêu ra chỉ để tham khảo.
Âm Hán – Việt làm thay đổi số phận của chữ Hán
Xét về ngôn ngữ học, việc người Việt học chữ Hán mà không nói tiếng Hán đã biến chữ Hán từ chỗ là công cụ kẻ cai trị định dùng để “xóa sổ” tiếng Việt vô tình trở thành công cụ giúp tiếng Việt tồn tại và phát triển. Nói cách khác, diễn biến của chữ Hán sau khi vào nước ta dường như được một sức mạnh vô hình “điều khiển” đi ngược lại ý muốn của kẻ đưa nó vào. Sức mạnh đó là âm Hán – Việt – thực chất là việc phiên âm chữ Hán một cách rất khôn ngoan, bảo đảm sự đối ứng một – một giữa tiếng Hán với tiếng Việt*. Điều đó, nói lên sức sống nội tại của tiếng Việt – do giàu ngữ âm, nên tiếng Việt phiên âm được Hán ngữ, còn tiếng Hán nghèo ngữ âm nên không thể phiên âm được Việt ngữ. Diễn biến nói trên của chữ Hán xem ra có vẻ trái ngược với lẽ thường, nhưng lại hàm chứa một phần sự thật, được gọi là “Nghịch lý chữ
4. Phạm Quỳnh:
“Luận giải văn học và triết học”
, Nxb Văn học, H, 2016. * Người Nhật đọc chữ Hán bằng hai âm khác nhau là Onyomi và Kunyomi, phức tạp hơn
cách người Việt chỉ đọc chữ Hán bằng một âm duy nhất là âm Hán – Việt. Ví dụ: Chữ 水
ta đọc một âm “Thủy”, thì người Nhật đọc là “Mizu” (Kunyomi) hoặc “Sui” (Onyomi).
biểu ý”. Đặc tính chữ tách rời âm đã giúp chữ Hán trở thành một “siêu ngôn ngữ” – chất keo gắn kết các cộng đồng người Hán nói nhiều phương ngữ khác nhau trong hàng nghìn năm. Đặc tính đó cho phép khi vào Việt Nam hoặc Nhật, chữ Hán không buộc người bản xứ phải thay đổi tiếng nói, mà được họ đọc bằng một bộ ngữ âm mới là âm Hán – Việt hoặc âm Kunyomi (âm thuần Nhật) / Onyomi (âm Hán – Nhật).
Tiếng Hán và tiếng Việt đều là ngôn ngữ đơn âm tiết (monosyllabic), sự tương đồng ấy tạo điều kiện cho mỗi chữ Hán đối ứng hoàn hảo với một từ Hán – Việt, mỗi âm tiết tiếng Hán ứng với một âm tiết Hán – Việt, giúp ta Việt hóa và mượn dùng được hầu hết từ ngữ tiếng Hán. Ví dụ, các từ ngữ ghép với chữ Hán 不 đều tương ứng có từ ngữ ghép với từ Hán – Việt “bất” như bất công, bất bình. Kho chữ Hán khổng lồ cung cấp đủ từ ngữ để tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ rất giàu từ ngữ, có khả năng diễn đạt mọi khái niệm.
Đóng góp của chữ Hán đối với sự phát triển tiếng Việt
Sức sống mãnh liệt của tiếng Việt đã làm thay đổi vai trò của chữ Hán sau khi được người Việt tiếp nhận: Từ chỗ là công cụ dùng để trừ bỏ tiếng Việt, chữ Hán biến thành nhân tố đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ và nền văn minh Việt.
Đóng góp lớn đầu tiên là giúp dân tộc ta có chữ viết để dùng Trong hàng nghìn năm trước đó, người Việt chưa có chữ viết, sống trong thời tiền sử, không có ghi chép sử sách để lại, xã hội phát triển chậm. Âm Hán – Việt đã tạo điều kiện mượn được chữ Hán có lịch sử lâu đời của người Hán biến thành chữ Nho của ta. Trong lịch sử, thường có chuyện các dân tộc mượn chữ viết của nền văn minh ở gần để ghi chép. Thời xưa, trình độ kinh tế – xã hội nước ta còn lạc hậu, chưa thể làm ra chữ viết riêng, do đó mượn chữ của nền văn minh Trung Hoa là cần thiết. Tuy chữ Nho chỉ ghi được từ Hán – Việt, không ghi được từ thuần Việt, nhưng cũng đủ để các nhà nước Việt Nam dùng làm chữ viết chính
thức trong hơn 1.000 năm, cho tới khi bị chữ Quốc ngữ thay thế. Chính quyền và tầng lớp trên ở ta dùng chữ Nho trong công việc hành chính, giao tiếp nội ngoại, giáo dục, thi cử, ghi chép, làm văn thơ. Nhiều người Việt giỏi chữ Nho khi đi sứ sang Trung Quốc đã bút đàm trôi chảy, họa thơ, đối câu đối thành thạo, khiến các quan chức nước chủ nhà khâm phục. Từ ngày có chữ viết, xã hội Việt Nam ra khỏi thời tiền sử, tiến sang kỷ nguyên mới, bắt đầu xây dựng nền văn minh Việt có ghi chép sử sách.
Chữ Hán là nền tảng để sau khi nước ta độc lập, tổ tiên ta sử dụng các đường nét, bộ thủ của chữ Hán làm ra chữ Nôm, đánh dấu cố gắng lớn của người Việt trong việc sáng tạo một loại chữ viết ghi được tiếng nói của tầng lớp bình dân, thoát khỏi sự lệ thuộc vào chữ Hán. Khoảng 30-40% chữ Nôm là chữ Hán nguyên gốc, khoảng 60-70% là chữ tự tạo. Chữ Nôm ghi được chữ thuần Việt, ngoài tính biểu ý có thêm tính biểu âm, nhưng chưa giải quyết được vấn đề đánh dấu thanh điệu. Chữ Nôm không được nhiều triều đình phong kiến Việt Nam coi là chữ viết chính thức. Do nhiều nguyên nhân nên chữ Nôm chưa hoàn thiện, nhưng các nhà văn yêu nước đã dùng chữ Nôm xây dựng được một nền văn học dân tộc thành công rực rỡ hơn nền văn học chữ Nho của tầng lớp trên.
Đóng góp lớn thứ hai là góp phần phát triển từ vựng tiếng Việt với quy mô lớn chưa từng thấy. Từ vựng là một trong ba yếu tố chính của ngôn ngữ. Dân tộc ta từ ngày ra đời đã sở hữu từ thuần Việt, là loại từ gắn chặt với nguồn gốc dân tộc, phản ánh đời sống người bình dân, có tính chất nôm na dân dã, thuộc loại “từ cơ bản”, dùng trong

đời sống hàng ngày và nói chung ít biến đổi. Nhiều nghìn năm sau, khi người Việt chính thức tiếp xúc văn hóa Trung Quốc, tiếng Việt có thêm từ Hán – Việt, thuộc lớp “từ văn hóa”, thường dùng trong đời sống chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, v.v…, thể hiện tri thức của văn minh Trung Hoa, bổ sung cho tiếng Việt các từ vựng biểu đạt khái niệm trừu tượng mà thời ấy tiếng ta chưa có từ để diễn đạt.
Vì mỗi chữ Hán đơn âm có một từ Hán – Việt tương ứng mà số lượng chữ Hán rất lớn, cho nên có rất nhiều từ Hán – Việt, hiện chiếm quá nửa tổng số từ tiếng Việt, đóng vai trò chính trong đời sống ngôn ngữ hiện đại ở ta . Trong các văn bản chính trị, triết học, khoa học, pháp lý, tỷ lệ từ Việt gốc Hán càng cao.
Từ Hán – Việt có nhiều cách tạo từ mới làm cho số lượng từ Hán – Việt luôn tăng, nhờ thế tiếng Việt có năng lực phát triển không ngừng. Ví dụ, cách ghép từ Hán – Việt với nhau (như bán dẫn, khởi tranh), ghép từ Hán – Việt với từ thuần Việt (tái đàn, vi tính). Khi dịch các từ ngữ ngoại văn, ta chỉ cần xem từ ấy dịch sang chữ Hán hoặc Kanji ra sao rồi đọc âm Hán – Việt của nó theo ngữ pháp tiếng Việt là được ngay kết quả mà không mất công nghĩ cách dịch. Nhờ vậy tiếng Việt hầu như có đủ tất cả các từ ngữ hiện đại. Ví dụ “dogmatism” dịch sang chữ Hán là 教條主義 ta “miễn phí” được ngay “chủ nghĩa giáo điều” Việt hóa 100%, dễ hiểu, nghe thuận tai. Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục đã sử dụng các từ cổ phiếu, tư bản, cộng sản, v.v… do người Nhật dày công chuyển từ tiếng Anh, Pháp sang chữ Kanji.
Từ Hán – Việt tồn tại song song và hỗ trợ hoàn hảo cho từ thuần Việt, nâng cao chất lượng từ vựng tiếng Việt. Nhiều khái niệm có thể biểu đạt bằng cả hai loại từ, cho phép thể hiện bản sắc linh hoạt, đa dạng của tiếng Việt. Nhiều từ thuần Việt có từ Hán – Việt tương ứng, đồng nghĩa nhưng có tính chính thức, trang trọng, giàu mỹ cảm, hàm nghĩa và phạm vi sử dụng rộng
5. Trần Trí Dõi:
“Lịch sử ngôn ngữ người Việt”
, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022.
hơn. Ví dụ, các từ “độc lập” “quốc ca” “sản phụ” lịch lãm hơn các từ thuần Việt “đứng một mình” “bài ca của nước” “bà đẻ”
Từ Hán – Việt là vật liệu chính để xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt. Nếu chỉ dùng các từ thuần Việt nôm na, thì khó xây dựng được một nền văn học, văn minh hiện đại. Dựa trên nền tảng từ Hán – Việt lớn mạnh và luôn tăng cường, tiếng Việt đã nhanh chóng phát triển, hiện đại hóa. Rõ ràng từ Hán – Việt là kết quả của quá trình vay mượn chữ Hán một cách sáng tạo, giúp tiếng Việt trở nên phong phú và uyển chuyển hơn mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Cần nhấn mạnh: Chữ Hán chỉ tác động đến yếu tố từ vựng mà không tác động đến yếu tố ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt. Từ Hán – Việt là từ vựng Việt 100%, tuy có gốc Hán nhưng nó vận hành hệt như từ thuần Việt, không làm thay đổi ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt, vì thế Việt ngữ tuyệt đối không phải là một phương ngữ của tiếng Hán
Ưu điểm của hệ thống chữ Hán đọc bằng tiếng Việt
Hệ thống chữ Hán đọc bằng tiếng Việt trội hơn hệ thống chữ Hán đọc bằng tiếng Hán ở chỗ:
Thực hiện được việc chuẩn hóa âm đọc chữ Hán: Trong khi người Hán do có nhiều phương ngữ mà đọc chữ Hán bằng nhiều âm khác nhau thì ngay từ xưa, người Việt đã đọc chữ Hán bằng một hệ thống âm Hán – Việt duy nhất. Điều đó, vừa giảm khó khăn cho người Việt học chữ Hán, vừa góp phần chuẩn hóa ngữ âm tiếng Việt.
Giảm hiện tượng đồng âm: Hệ thống này có độ phân giải ngữ âm cao, năng lực phân biệt từ đồng âm tốt hơn hệ thống chữ Hán đọc bằng tiếng Hán (hiện nay là tiếng Phổ thông). Đó
6. Trong sách
“Grammaire annamite”
, G. Aubaret nhận định tiếng Việt là một phương ngữ của Hán ngữ. Xem: Phạm Thị Kiều Ly:
“Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”
, trong
“Tiếng Việt 6”
, Nxb Tri thức, H, 2015.
là do tiếng Hán chỉ sở hữu khoảng 1.300 âm tiết có thanh điệu, nghĩa là chỉ có 1.300 âm tiết để biểu đạt hàng chục nghìn chữ Hán, vì thế Hán ngữ có hiện tượng đồng âm dị nghĩa rất nghiêm trọng. Nhưng khi đọc bằng tiếng Việt, thì số chữ Hán ấy có thể biểu đạt bằng nhiều âm tiết hơn: Con số tối đa trên lý thuyết là 19.520 âm tiết có thanh điệu (thường dùng 10.000)
Nhờ thế, hệ thống âm Hán – Việt cho phép tiếng Việt duy trì được hình thái đơn âm tiết mà vẫn không gây nhầm lẫn bởi nạn đồng âm. Tiếng Hán không thể làm như vậy. Ví dụ: Tiếng Việt có thể nói “Ý của câu này là…”, nhưng tiếng Hán phải nói “Ý nghĩa của câu này là…”, bởi lẽ nếu chỉ nói một âm tiết “Ý” (âm Hán là [yì]) thì người nghe sẽ nhầm với hơn 100 chữ Hán cùng âm [yì].
Để nâng cao độ phân giải ngữ âm, chữ Hán tự nhiên phải đa âm tiết hóa, chủ yếu là song âm tiết hóa (bisyllabification, ghép 2 từ với nhau), tức phải kéo dài từ ngữ. Đây là cuộc cải cách tự nhiên và quan trọng nhất giúp Hán ngữ không bị suy sụp trước sức ép của nạn đồng âm.
Chữ Hán trở thành yếu tố bảo vệ tiếng Việt
Cho dù phong kiến Trung Quốc không ngừng sử dụng chữ Hán để đồng hóa tiếng Việt trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, nhưng rốt cuộc mưu đồ ấy đã thất bại. Các yếu tố quan trọng như dân Việt kịch liệt phản đối nói tiếng Hán, cấu trúc làng xã khép kín, tiếng Việt cực giàu ngữ âm, giàu từ vựng, văn học truyền miệng có sức sống bền dai, phụ nữ Việt lấy chồng Trung Quốc kiên cường dạy con nói tiếng mẹ đẻ, ngữ âm, ngữ pháp và nguồn gốc của tiếng Việt đều khác tiếng Hán , v.v… đã dựng một hệ thống rào cản kiên cố nhiều lớp có tác dụng mạnh mẽ bảo vệ tiếng Việt, chặn đứng mọi nỗ lực Hán hóa tiếng Việt.
7. Nguyễn Quang Hồng:
“Âm tiết và loại hình ngôn ngữ”
, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 8. Trần Trí Dõi:
“Lịch sử ngôn ngữ người Việt”
, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022.
Đặc biệt, cấu trúc tách chữ – âm của chữ Hán đã vô tình giúp người Việt tiếp nhận chữ viết và từ vựng Hán ngữ mà vẫn giữ được nguyên vẹn hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của mình. Nói cách khác, chữ Hán đã ngẫu nhiên dựng một rào cản vô hình về ngôn ngữ học, giúp những người Việt học chữ Hán giữ gìn được tiếng mẹ đẻ, góp phần nhỏ bé vào nỗ lực chống đồng hóa ngôn ngữ.
Giả thuyết lịch sử
Để làm rõ nhận xét tính biểu ý của chữ Hán là một trong các căn nguyên làm yếu khả năng đồng hóa của chữ Hán, ở đây nêu ra một giả thuyết lịch sử: Nếu chữ Hán dân ta bị ép phải học là chữ biểu âm thì kết cục sẽ ra sao?
Hiển nhiên, do chữ Hán biểu âm có cơ cấu chữ viết gắn chặt với âm đọc, nên người học chữ Hán chỉ có thể đọc chữ bằng tiếng Hán mà không thể đọc bằng bất cứ thứ tiếng nào khác – tức buộc phải nói tiếng Hán, và không thể làm ra âm Hán – Việt, từ Hán – Việt; như vậy lâu ngày tiếng Việt sẽ bị Hán hóa. Mặc dầu giả thuyết này có phần khiên cưỡng, song từ đây có thể rút ra kết luận: Nếu chữ Hán là chữ biểu âm thì khả năng Hán hóa tiếng Việt sẽ cao hơn trường hợp là chữ biểu ý.
Kết luận
Kết cấu tách rời chữ – âm của chữ Hán, tức hiện tượng chữ viết không gắn chặt với âm đọc đã cho phép người Việt tiếp nhận chữ Hán mà vẫn giữ nguyên hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của mình, không buộc phải nói tiếng Hán. Điều đó làm suy yếu năng lực đồng hóa ngôn ngữ của chữ Hán; hơn nữa còn làm cho chữ Hán ngẫu nhiên trở thành nhân tố góp phần bảo vệ và phát triển tiếng Việt, làm nên các thành tựu ngôn ngữ học kể trên. Việc thừa nhận cống hiến của chữ Hán đối với sự phát triển ngôn ngữ Việt không làm giảm lòng tự hào dân tộc của chúng ta, ngược lại, nó cho thấy bản lĩnh của người Việt trong việc “thu phục” chữ Hán để làm lợi cho Việt ngữ và chứng tỏ tiếng Việt có sức sống mãnh liệt.
![]()
