Bỏ qua nội dung Bỏ qua thanh bên Bỏ qua chân trang

ĐỜI SỐNG TĂNG ĐOÀN Ở NALANDA (ẤN ĐỘ) VÀO THẾ KỈ VII: TỤC DÙNG THÌA (MUỖNG) VÀ ĐŨA

NGUYỄN CUNG THÔNG

 

Phần này, bàn về chương 16 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương này chỉ có 93 từ, không kể tiêu đề gồm bốn từ là Thỉ Trợ Hợp Phủ (tạm dịch/NCT: Tục dùng thìa và đũa). Tuy rất ngắn, nhưng lại có nhiều thông tin sâu sắc về đời sống tăng đoàn Phật giáo, tập tục của Ấn Độ và Trung Hoa vào TK VII. Các tài liệu như Tây Vực Kí của pháp sư Huyền Trang (khoảng 602-664), Phật Quốc Kí của pháp sư Pháp Hiển (337- 422) và ghi chép của pháp sư Nghĩa Tịnh, cho ta biết lịch sử Phật giáo và đời sống tăng đoàn thời cực thịnh so với hiện nay. Đây là ba cao tăng bỏ cả đời đóng góp cho Phật giáo, được biết đến nhiều so với các du tăng cầu pháp khác đã từng đến Ấn Độ như Chu Sĩ Hành 朱士行 (203 – 282), Bảo Vân, Tăng Cảnh, Huệ Viễn… Trong một tài liệu khác là Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện, pháp sư Nghĩa Tịnh ghi lại việc du tăng cầu đạo và đặc biệt có các nhà sư từ Việt Nam qua Thiên Trúc tu tập: Huệ Diêm, Khuy Xung (từ Giao Châu), Trí Hành, Đại Thừa Đăng (từ Ái Châu). Mặc dù là người sau cùng trong ba cao tăng nổi tiếng qua Ấn Độ du học thời Trung cổ, nhưng Nghĩa Tịnh lại ở ngoại quốc lâu nhất và dĩ nhiên giao lưu với các văn hóa/ngôn ngữ nước ngoài sâu đậm hơn. Do đó, các ghi chép và phê bình của ngài rất đáng được lưu ý. Các dữ kiện này rất đáng được tìm hiểu thêm để hiểu rõ hơn tình hình Phật giáo ở Giao Châu nói riêng, và tình trạng xã hội, kinh tế và chính trị ở các nước Á châu vào thời

Trung cổ nói chung. Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu trên vì Hán văn vào thời Trung cổ có khác hơn ngày nay, có lúc ý nghĩa không rõ ràng cũng như ý của người ghi chép. Tiếng Hán Trung cổ cũng phản ánh thời kỳ phát triển khác biệt: td. âm vận thời nhà Đường so với âm vận thời nhà Hán, thời nhà Minh; đây là chưa kể đến việc soạn giả dịch lầm hay tam sao thất bản – td. nhầm lẫn giữa chữ vị 未 và chữ mạt 末 trong kí âm Hán Việt tiếng Phạn Ma – trong Madhyadesa – xem thêm chi tiết trong mục 2.1. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh) NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện).

Pháp sư Nghĩa Tịnh và Nam Hải Kí Quy Nội Pháp

Truyện

Pháp sư Nghĩa Tịnh 義淨, tên tục là Trương Văn Minh 张文明 sinh năm 635 ở Tế Châu (Sơn Đông, Trung Quốc) và xuất gia năm 14 tuổi. Ngài đã nghe tiếng Thiền sư Pháp Hiển và Huyền Trang hành hương xứ Phật, nên nhất định theo đuổi ý định này để tìm hiểu Phật pháp thấu đáo hơn. Tới năm 37 tuổi, ngài mới có cơ hội đi tàu Ba Tư từ Quảng Châu (Trung Quốc) qua Srivijaya, bây giờ là Palembang ở Sumatra, từng là một trung tâm Phật giáo lớn trong vùng Đông Nam Á vào thời trung cổ; ở đây 6 tháng học tiếng Phạn và tiếng Mã Lai, sau đó đi tàu sang Ấn Độ. Sau khi đậu “kì thi

1. Tham khảo bài viết

“Vinaya works translated by Yijing and their circulation: Manuscripts

excavated at Dunhuang and Central Asia”

của GS Ming Chen (Đại học Bắc Kinh) – đăng trong (9/ Tạp chí

Studies in Chinese Religions

1(3):1-40. 2. Đường hàng hải từ Quảng Châu đến Mã Lai là một phần của Đường Biển Tơ Lụa (~ con đường tơ lụa trên biển – Maritime Silk Road/A) thời trung cổ. Thương thuyền ngoại quốc như của Ba Tư thường chuyên chở các hàng hóa gồm có dược phẩm, thức ăn/gia vị, châu báu… NHKQNPT cho thấy giao thông bằng đường biển ở ĐNA vào TK VII khá ổn định và phồn thịnh tuy nguy hiểm, đặc biệt là có ghé ngang bán đảo Mã Lai; thành ra không ngạc nhiên khi ngài ghi lại các địa danh về phía Bắc Mã Lai như Phù Nam, Lâm Ấp – Chiêm Ba (Champa – để ý là hai địa danh cùng hiện diện vào thời này/NCT), Hoan Châu đã hiện diện vào thời này theo Nghĩa Tịnh. Đây là những dữ kiện cần được khai thác sâu xa hơn để hiểu lịch sử ĐNA thêm chính xác.

nhập học” rất cam go, ngài được nhận vào chùa (tu viện) Nalanda với 12 năm tu học, so với 25 năm sống ở hải ngoại và thăm viếng được hơn 30 quốc gia. Ngài đem về nước khoảng 400 bộ kinh luận tiếng Phạn, cùng khoảng 300 viên ngọc Xá lợi. Cho đến cuối đời vào năm 713, ngài luôn chăm chú dịch kinh từ tiếng Phạn (được hơn 50 bộ kinh). Một số tác phẩm nổi tiếng của Nghĩa Tịnh là Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện Trọng Quy Nam Hải Truyện Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện Phạn Ngữ Thiên Tự Văn 梵語千字文 còn gọi là Phạm Đường Thiên Tự Văn Đường Tự Thiên Man Thánh Ngữ梵唐千字文 唐字千鬘聖語 v.v…

Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện gồm 4 quyển: Phần đầu giới thiệu hoàn cảnh ra đi, các nơi tạm trú cùng 40 điều khoản (chương/ mục) được coi như là nội quy cho các sa môn (tăng sĩ hay ni cô Phật giáo) phải noi theo kèm theo các lý do và phê bình chi tiết của pháp sư Nghĩa Tịnh. Một số điều khoản trong NHKQNPT tiêu biểu:

1) Phá hạ phi tiểu 破夏非小 (Phá hạ không phải là chuyện nhỏ – tạm dịch/NCT)

2) Đối tôn chi nghi 對尊之儀 (Cách ứng xử với đức Phật Tổ)

3) Thực tọa tiểu sàng 食坐小床 (Ngồi ghế nhỏ trong bữa ăn)

4) Xan phân tịnh xúc 餐分淨觸 (Phân biệt thức ăn sạch và dơ)

8) Triêu tước xỉ mộc 朝嚼齒木 (Sáng sớm phải nhai/chà răng bằng xỉ mộc)

3. Trong

Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện

, Nghĩa Tịnh phê bình là tự 寺

(chùa) là cách phiên/dùng không chuẩn (不是正翻 bất thị chính phiên), so với cách dùng 毘訶羅 bì ha la (phiên âm tiếng Phạn vihara विहार là nơi thờ thần/Phật, chùa, tu viện …). Tuy nhiên ở đây ngài vẫn dùng tự (~ chùa) cho Na Lan Đà. Chùa còn có thể bao gồm bảo tháp, tu viện, thư viện, nơi ở của tăng đoàn – không khác gì cấu trúc ‘mở’ của chùa vào thời đại này (TK XXI – so với cấu trúc nhà thờ truyền thống của đạo Ki Tô). 4. Hạ 夏 có nhiều nghĩa (td. mùa hè, nhà lớn, Trung Hoa…): Ở đây nghĩa là thời gian ba tháng hay khoảng 9 tuần (nhất hạ cửu tuần) mùa mưa – tăng lữ ở một chỗ (an cư) như chùa, nhà nhỏ, gốc cây mà không được đi đâu. Thành ra, có nhiều cách dùng liên hệ như sơ hạ (đầu hạ), hạ thủ (夏首 là ngày đầu hạ – không phải hạ thủ 下手 là ra tay), mãn hạ, kết hạ, phá hạ, v.v…

9) Thụ trai quỹ tắc 受齋軌則 (Lề luật về ăn chay)

16) Thi trợ hợp phủ 匙筯合否 (Tục dùng thìa /muỗng và đũa có phù hợp không?)

38) Thiêu thân bất hợp 燒身不合 (Thiêu xác thân là không hợp lẽ trong PG)

39) Bàng nhân hoạch tội 傍人獲罪 (Người ngoài cuộc mắc tội)

40) Cổ đức bất vi 古德不為 (Các điều sa môn cao tuổi và đạo đức không làm).

Chương (mục/điều khoản) 16 “Thi trợ hợp phủ”

Tục dùng thìa/muỗng và đũa có phù hợp không?

Trích từ trang này https://cbetaonline.dila.edu.tw/zh/T212 5_002

Hán văn:Tây phương thực pháp duy dụng hữu thủ, tất hữu bệnh cố khai thính súc thi, kì trợ tắc Ngũ Thiên sở bất văn, Tứ Bộ diệc vị kiến, nhi độc Đông Hạ cộng hữu tư sự, tục đồ tự thị

5. Chữ thi 匙 (thanh mẫu thường 常 vận mẫu chi 支 bình thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết 是支切 thị chi thiết (TVGT, ĐV, QV) – TVGT ghi chủy dã

匕也 是支乀 thị chi phật (TNTTĐTA 精嚴新集大藏音), 上支切 thượng chi thiết (NT,

TTTH), 常支切 thường chi thiết (TV, VH, LT, TG 字鑑), 辰之切 thần chi thiết (CV), TNAV

ghi vận bộ 支思 chi tư (dương bình), CV ghi cùng vần/bình thanh 時 旹 塒 蒔 漦 鰣 匙 𦑡 提 (thì đề). Giọng BK bây giờ là chí shi (theo pinyin hiện đại) so với giọng Quảng Đông ci4 si3 và các giọng Mân Nam 客家话 [客英字典] shi2 [客语拼音字汇] ci2 si2 [梅 县腔] she2 shi2 chii2 chi2 [宝安腔] ci2 | si2 [海陆腔] shi2 [台湾四县腔] sii2 [沙头角腔]

si2 ci2 [东莞腔] ci2 [陆丰腔] shi3 潮州话 si5 (sî), tiếng Nhật (Kan-on) shi và tiếng Hàn si. Thi cho ra dạng thìa tiếng Việt cũng như ly – lìa, chi – chia, bi – bia, bì – bìa, bí – bịa … Chìa (td. chìa khóa) là âm cổ hơn so với thìa.

6. Các cách đọc chữ trợ HV 箸 著 櫡 筯 𥯄 là 遲倨切 trì cứ thiết (TVGT, QV), 除魚切 trừ ngư thiết (NT), 遲據切 trì cứ thiết (TV, LT, VH), 陟據反 trắc cứ phản (LKTG), 直據 反 trực cứ phản (LKTG), 直據切 trực cứ thiết (TTTH), 陟慮切 trắc lự thiết (TVGT, QV,

LT, CV) – TVGT, Hán Thư/TVi ghi trợ là dùng để ăn cơm (食所用也 thực sở dụng dã) …

丁吕切 đinh lữ thiết (QV) – đây là một cách đọc cho thấy âm cổ có phụ âm đầu là âm tắc/đầu lưỡi/hữu thanh, dẫn đến một dạng âm cổ phục nguyên là *ȡʱiwo̯ đọc gần như

âm đũa tiếng Việt.

cựu pháp, tăng lữ tùy tình dụng phủ. Trợ kí bất thính bất già, tức thị đương hồ Lược Giáo. Thì chúng vô ki nghị, Đông Hạ tức khả hành yên; nhược chấp tục hữu xi hiềm, tây thổ nguyên bất hợp tróc. Lược Giáo chi chỉ, tư kì sự yên.Phỏng dịch/NCT: “Ở phương Tây, người ta chỉ dùng tay phải để bốc (thức ăn), trừ khi bị bệnh thì được phép giữ và dùng thìa (muỗng). Khắp năm miền của Ấn Độ chưa từng nghe ai nói đến đũa, cũng không hiện diện trong giới luật của bốn trường phái Phật giáo, chỉ có Trung Hoa mới dùng đũa: Người dân theo truyền thống đều dùng đũa, nhưng người tu hành thì tùy theo theo sở thích mà dùng đũa hay không. Dùng đũa không bị cấm hay được phép, phải theo điều lệ trong Lược Giáo Giới Kinh, để khi dùng đũa thì không ai bàn tán hay chê cười. Ở Trung Hoa dùng đũa là thường tình, nếu không chấp nhận thì bị người ta chế riễu hay phê phán. Ở phương Tây thì không dùng đũa, điều này được ghi trong Lược Giáo Giới Kinh”

Tiểu kết

Chương 16 cho ta biết là Ấn Độ không biết đến đũa, chỉ dùng tay phải trong hoạt động ăn uống. Truyền thống lâu đời này hiện diện trong Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo và Phật giáo, tuy Nghĩa Tịnh không nhắc dến các tôn giáo khác ngoài PG. Tay phải là biểu tượng cho sự tinh khiết, sự lành, lòng tôn kính cũng như dùng cho các hoạt động lương thiện, tín ngưỡng – khác với tay trái thường dùng cho các hoạt động phàm tục/tiêu cực như vệ sinh cá nhân. Chương 16 còn cho thấy khuynh hướng hòa nhập vào tục lệ địa phương, dù trọng tâm học đạo của pháp sư Nghĩa Tịnh là “Nội quy truyền thống của Phật giáo”; thành ra khi đến Ấn

Độ, tu sĩ Trung Hoa không nên dùng đũa như ở quê nhà. Không những thế, ngài cũng cho thấy Tiểu thừa và Đại thừa không có sự phân chia rõ ràng vào TK VII.

Chương 16 rất ngắn, nhưng đặt ra vấn đề giới hạn/luật lệ của cộng đồng tôn giáo so với truyền thống của xã hội địa phương qua sự kiện dùng tay, thìa và đũa rất cụ thể. Điều quan trọng là phải biết hòa nhập với truyền thống xã hội địa phương để tránh các kết quả tiêu cực: td. trong chương 10 Y thực sở tu, Nghĩa Tịnh thuật lại là ngài đã từng xé bỏ các áo cà sa ở Trung Hoa khi qua Thiên Trúc để làm đồ dùng/vật mọn, vì chúng quá khác biệt với loại áo cà sa ở đất Phật, và vì bị chế nhạo: “Dầu là tôi muốn nói thẳng ra, nhưng chỉ sợ người nghe sẽ cảm thấy rất khó chịu” (về lề luật PG thường sai lầm ở quê nhà Trung Hoa). Khuynh hướng linh hoạt trong việc thực thi giới luật là một chủ đề thú vị, phản ánh qua thuật ngữ PG Tùy phương tì ni隨方比尼 hay Zuiho bini (tiếng Nhật). Điều này, cho thấy một nguyên nhân Phật giáo dễ phát triển ở các nước châu Á cũng như ở châu Âu vào thời cận đại. Không những thế, đọc kỹ NHKQNPT sẽ cho ta nhiều thông tin về Đường Biển Tơ Lụa (Maritime Silk Road) mà Nghĩa Tịnh đã ghi lại khá chi tiết. Các chủ đề trên rất đáng được khai triển thêm, nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này. Hi vọng bài này là một động lực cho người đọc cảm thấy hứng thú để tìm tòi và tra cứu sâu xa hơn, cũng như tìm ra nhiều kết quả thú vị hơn nữa.

7. Thuật ngữ

Tùy phương tì ni

có cấu trúc [Hán + Phạn], tùy phương là tùy theo địa phương/ phong thổ/tình huống và tì ni là phiên âm tiếng Phạn Vinaya nghĩa là giới luật. Thuật ngữ này hàm ý những việc mà giới luật PG hay đức Phật Tổ không nói đến hay không cấm hay cho phép, thì tùy lúc và tùy nơi mà tiến hành sao cho thích hợp. Thuật ngữ PG này cho thấy sự linh hoạt của giới luật PG, không phải lúc nào cũng khăng khăng duy trì theo truyền thống hay theo ý hay sự diễn dịch của riêng mình, mà còn phải thay đổi cho thích hợp với môi trường xã hội chung quanh. Ngay cả Phật giáo ở Việt Nam hiện nay, khi sang đến Mỹ, Pháp hay Úc đều có những khác biệt, đại đồng tiểu dị, tuy cốt lõi vẫn là hướng dẫn đại chúng đến con đường giác ngộ toàn diện. Một trường hợp khác là từ đầu thời Minh Trị (1868-1912), một số nhà tu Nhật Bản có thể thành lập gia đình và có con cái (cũng giống như một số nhà tu hành hay cao tăng/Lama của Tây Tạng) như người dân bình thường: Điều này, cho thấy giới luật PG cũng thay đổi phần nào để gần gũi với đại chúng hơn.

Cảm nghĩ của bạn?
0Tuyệt vời0Tệ0Vui vẻ0Buồn
Chùa Phật học Xá Lợi

Chịu trách nhiệm xuất bản: Hòa Thượng Thích Đồng Bổn

Địa chỉ: 89 Bà Huyện Thanh Quan, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP. HCM

Thời gian mở cửa

Thứ Hai - Chủ nhật
Sáng: 8:00 - 11:00
Chiều: 14:00 - 19:00

Theo dõi chúng tôi