ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO Ở CẦN ĐƯỚC
ThS NGUYỄN VĂN ĐÔNG
(Nguyên Bí thư Huyện ủy Cần Đước, Long An)

Bản đồ huyện Cần Đước
Tôn giáo thường gắn liền với dân cư. Trong tiến trình dân cư từ miền Ngũ Quảng từ thế kỷ XVII, XVIII đi về phương Nam thì cũng mang theo Phật giáo. Và Phật giáo cũng đã được ghi nhận có mặt từ rất sớm ở Cần Đước với sự xuất hiện một am tự nhỏ ở thôn Tân Trạch từ đầu thế kỷ XVIII (1726). 80 năm sau (năm 1790) am tự này được mang tên Thiên Mụ gắn với câu chuyện chúa Nguyễn Ánh ban tặng để đền ơn cưu mang ông thời bôn tẩu năm 1783.
Trở lại lịch sử khai phá vùng Cần Đước tính từ mốc năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định thì Cần Đước thuộc huyện Phước Long của phủ này. Lúc này, toàn phủ có khoảng 4 vạn hộ với 200 ngàn di dân tự phát, như vậy ở Cần Đước chắc chắn đã có dân cư dù có thể còn thưa thớt.
Từ sau 1698 đến giữa thế kỷ XVIII, với những chính sách khuyến khích di dân cụ thể của các chúa Nguyễn, thì qua tư liệu cho thấy vùng Cần Đước được khai phá mạnh hơn, dân cư tăng nhanh và hình thành nhiều xóm làng. Theo sách Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn, thì khoảng giữa thế kỷ XVIII, người ta đã thấy ở cửa sông Soài Rạp, ghe thuyền mua bán rất tấp nập, chủ yếu là ghe thuyền từ Thuận Hóa vào mua gạo và có tư liệu cho rằng hàng năm có khoảng 1.000 thuyền chuyên buôn gạo cung cấp cho Thuận Hóa. Cần Đước về mặt địa lý thì nằm ngay cửa sông Soài Rạp, nên chắc chắn dân cư và kinh tế cũng đã khá phát triển trong bối cảnh chung này.
Nhưng ngoài chùa Thiên Mụ xuất hiện khá sớm ở thôn Tân Trạch (1726), thì suốt thế kỷ XVIII không ghi nhận thêm một ngôi chùa nào nữa ở Cần Đước. Có thể lý giải là tuy chưa có nhiều, nhưng chùa Thiên Mụ không phải là ngôi thảo am duy nhất có ở Cần Đước trong giai đoạn này, mà có lẽ vì chùa Thiên Mụ có gắn với chuyến tạm trú của chúa Nguyễn Ánh năm 1783, nên có điều kiện tồn tại và được biết đến nhiều hơn!
Sang đến thế kỷ XIX mới thấy xuất hiện thêm chùa mới và trong suốt thế kỷ ghi nhận cũng chỉ có 10 ngôi chùa. Các ngôi chùa này rải đều từ vùng Hạ tới vùng Thượng và xuất hiện cách nhau từ 10 đến 20 năm mới có thêm một ngôi chùa.
Chùa gắn liền với dân cư, nên qua đó cũng cho thấy vào thế kỷ XIX này, dân cư đã quần tụ nhiều khắp trên địa bàn Cần Đước. Từ Tân Ân, Phước Tuy, Tân Lân, Phước Đông ở vùng Hạ cho đến Long Định, Long Trạch, Tân Trạch, Long Hòa ở vùng Thượng.
Tính từ đầu thế kỷ XIX đến thời điểm thực dân Pháp bắt đầu đặt chân đến Nam Kỳ năm 1860, thì ở Cần Đước mới có 07 ngôi chùa.
30 năm đầu được ghi nhận sự xuất hiện 03 ngôi chùa là chùa Phước Hưng năm 1805 ở làng Phước Tuy; chùa Long Phước năm 1823 ở làng Long Định và chùa Phước Lâm năm 1826 ở làng Tân Ân. Đây là những địa bàn nằm cạnh sông Vàm Cỏ Đông và sông Cần Đước, là những vùng dân cư đầu tiên được hình thành sớm ven sông do đặc điểm di chuyển lúc ban đầu từ miền Thuận Quảng vào chủ yếu đi bằng đường biển rồi rẽ vào các con sông. Chùa Phước Lâm được xây dựng sớm từ năm 1826 tại khu vực chợ Cần Đước (nay là khu phố 5, thị trấn Cần Đước), vùng kinh tế phát triển sớm của vùng Hạ Cần Đước.
Đến thập niên 40 thế kỷ XIX ghi nhận sự xuất hiện thêm 2 ngôi chùa là chùa Hội Phước năm 1840 ở làng Long Trạch và chùa Long Nghĩa năm 1847 ở làng Long Hòa. Qua đó, chúng ta thấy từ ngoài ven sông thì dân cư đã tiến sâu vào nội địa như vùng Long Hòa, Long Trạch và cùng với đó thì cũng lập chùa để đáp ứng nhu cầu tâm linh. Chùa Long Nghĩa được xây dựng ngay chợ Rạch Kiến, nơi đã có đông dân cư và kinh tế phát triển đã thành chợ. Sau khi có chùa Long Nghĩa ở Long Hòa năm 1847, thì 13 năm sau, năm 1860 xuất hiện chùa Khánh An ở xã Long Sơn. Đến thời điểm này, trên địa bàn Cần Đước về mặt tôn giáo đã có đạo Phật với 07 chùa.
Sau sự xuất hiện của chùa Khánh An ở xã Long Sơn năm 1860, thì 20 năm sau đó không thấy có thêm ngôi chùa nào, do xã hội mất ổn định từ cuộc xâm lược của thực dân Pháp trên địa bàn huyện.
Chúng ta nhớ thời điểm tháng 2/1859, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định, đến tháng 2/1861, chiếm đại đồn Chí Hòa và tiến đánh lấn ra chiếm Tân An, Biên Hòa, Gò Công… Và Cần Đước từ rất sớm đã trở thành địa bàn chiến đấu của nghĩa quân dưới cờ của những thủ lĩnh, như Bùi Quang Diệu, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Văn Tiến… nhằm ngăn chặn bước tiến quân của Pháp.

Pháp đánh chiếm thành Gia Định
Vì có chiến tranh, nên xã hội bị xáo trộn không ổn định và mọi nguồn lực cần tập trung cho mục tiêu chống Pháp, nên những nhu cầu khác phải dừng lại. Đó là lý do khá thuyết phục để giải thích vì sao trong suốt 20 năm, từ sau 1860 đến 1880 ở Cần Đước không xuất hiện thêm một ngôi chùa nào.
Nhưng những cuộc khởi nghĩa ở Cần Đước dù rất kiên cường cũng sớm lụi tàn do tương quan lực lượng không cân sức và cũng do thực dân Pháp tập trung đàn áp. Năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông. Từ sau trận đánh chìm tàu giặc ở Vàm Nhật Tảo tháng 2/1861, thì Nguyễn Trung Trực đã rút về Biên Hòa và sau đó lui về Rạch Giá; năm 1864, Trương Định tuẫn tiết ở Gò Công. Trong bối cảnh đó, Bùi Quang Diệu theo Võ Duy Dương về xây dựng căn cứ Tháp Mười. Tháng 6/1866 căn cứ Tháp Mười thất thủ, Bùi Quang Diệu trở về Cần Đước và buộc phải chọn con đường bãi binh và ra hàng Pháp tháng 9/1866. Như vậy, thực dân Pháp đã bình định được vùng Cần Đước ngay nửa đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX. Và chính sự ổn định tạm thời này, mà chùa chiền tiếp tục được xây dựng ở Cần Đước, như Phước Đông, Tân Lân, Tân Trạch.
Trong thế đã bình định xong Nam Kỳ, các cuộc đấu tranh chống Pháp ngày càng đi vào bế tắc và lắng dịu. Tình hình xã hội tạm yên ổn, nên Pháp đã cho đào con kinh Nước Mặn trên địa bàn Cần Đước năm 1879 và chùa chiền cũng đã tiếp tục được xây dựng, như chùa Phước Lâm, xã Tân Lân, năm 1880; chùa Phước Sơn, xã Phước Đông, 1884; chùa Quang Minh, xã Tân Lân và chùa Định Phước, xã Tân Trạch, 1890.
Đến hết thế kỷ XIX, ở Cần Đước đã có 10 chùa Phật và đều là những chùa được xây dựng to lớn. Các chùa Phước Lâm, xã Tân Ân; chùa Phước Lâm, chùa Quang Minh, xã Tân Lân; chùa Phước Sơn, xã Phước Đông, tuy ở khác địa bàn hành chính, nhưng trên thực tế thì nằm rất gần nhau trên địa bàn vùng đông dân cư quanh chợ Cần Đước. Nay, các chùa này đều thuộc thị trấn Cần Đước. Điều này, cho thấy vào cuối thế kỷ XIX, khu vực chợ Cần Đước kinh tế xã hội cũng đã khá phát triển.
Thời điểm này, Nam Kỳ đã nằm dưới sự thống trị của thực dân Pháp, song song đó là một quá trình tập trung ruộng đất vào tay điền chủ. Và những người điền chủ có tâm đã bỏ tiền xây chùa. Chùa Phước Lâm và chùa Quang Minh (1890) ở làng Tân Lân, chùa Phước Sơn, làng Phước Đông (1884)… đều do điền chủ bỏ tiền xây dựng. Chùa Phước Lâm là do họ Bùi (ông Hội đồng Tôn) và chùa Quang Minh là do họ Đinh (ông Hương thân Đinh Văn Cang), chùa Phước Sơn do dòng họ Lê bỏ tiền xây dựng và rước sư về làm trụ trì.
Từ đó, chùa ở Cần Đước có một đặc điểm là có chủ chùa, tức là người bỏ tiền ra xây dựng chùa, hiến ruộng đất cho chùa để hỗ trợ kinh tế cho nhà chùa tồn tại và hoạt động. Ông sư trụ trì chủ yếu lo phần nghi lễ cúng tế và có một gia đình gồm vợ con ở cạnh chùa. Bà vợ cũng có vai trò giúp đỡ cho ông chồng trụ trì nhiều việc trong sinh hoạt cúng lễ thường ngày của chùa.
Từ đặc điểm này, nên chùa không còn là những thảo am nhỏ bé thời còn hoang sơ mà thường được xây to lớn, đẹp, hoàn
chỉnh theo một mô thức kiến trúc từ chùa chính cho đến nhà trù. Kiến trúc, tượng Phật được chạm trổ tinh vi, kèm theo là một hệ thống hoành phi, câu đối. Chùa được hiến ruộng, như chùa Phước Lâm (Tân Lân) có đến mấy chục mẫu ruộng và từng là tổ đình của dòng thiền Lâm Tế ở Cần Đước, nuôi dưỡng đào tạo rất nhiều tăng tài.
Có thể nói thế kỷ XIX là thời kỳ kinh tế xã hội Cần Đước đã khá phát triển và kèm theo đó Phật giáo cũng có điều kiện phát triển với sự hiện diện của những ngôi chùa to trên các khu vực đông dân như chợ Cần Đước, chợ Rạch Kiến, làm chỗ dựa tâm linh và góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và đạo đức xã hội. Cùng với Phật giáo, thì Công giáo cũng xuất hiện khá sớm ở Cần Đước từ thế kỷ XVIII.
Bước sang thế kỷ XX là giai đoạn Phật giáo phát triển mạnh ở Cần Đước với 45 chùa, cùng với sự xuất hiện của đạo Cao Đài và đạo Tin Lành vào những năm 20, 30 của thế kỷ. Đây là giai đoạn thực dân Pháp đã thôn tính xong đất nước Việt Nam và đi vào tăng cường khai thác thuộc địa. Xã hội không còn loạn lạc chiến tranh.
Ngay thập niên đầu đã xuất hiện thêm 04 ngôi chùa Phật đều ở vùng Thượng, như Thiên Phước (xã Long Trạch, 1900); Tam Bửu (xã Phước Vân, 1900); Phước Linh (xã Long Hòa, 1904); Phước Diệu (xã Mỹ Lệ, 1908).
15 năm sau, vào thập niên 20 mới tiếp tục xuất hiện 04 chùa ở Phước Đông và vùng Long Định, Long Cang, như chùa Đông Lâm, xã Phước Đông, 1923; chùa Long Phước, xã Long Định, 1923; chùa Thọ Vức, xã Phước Đông, 1926; chùa Linh Bửu, xã Long Cang, 1927.
Đến thập niên 30, xuất hiện một loạt chùa ở Phước Vân, như chùa Thiện Phước, 1930; chùa Vĩnh Phước, 1932; chùa Tấn Bửu, 1937 và 3 chùa ở vùng Hạ là chùa Hưng Long, xã Tân Ân, 1935; chùa Phước Long, xã Long Hựu, 1938; chùa Phật Sơn, xã Tân Lân, 1940.
Như vậy, ta thấy trong 40 năm đầu của thế kỷ XX và trước Cách mạng Tháng 8/1945 đã xuất hiện thêm 14 chùa, nhiều hơn số lượng chùa đã có trong hai thế kỷ XVIII, XIX; đặc biệt là có tới 04 chùa ở làng Phước Vân, chứng tỏ vào đầu thế kỷ XX, vùng này cũng đã rất phát triển.
Trong 40 năm đầu của thế kỷ XX, các tôn giáo chính thống đã lần lượt có mặt ở Cần Đước là Phật giáo, Công giáo, Cao Đài và Tin Lành. Ngoài ra, ở làng Long Hựu còn xuất hiện một đạo bản địa gọi là “đạo Tâm” hay còn gọi là “đạo Nhảy” vào thập niên 20…
Từ năm 1940 đến 1945 đã không ghi nhận thêm sự xuất hiện của bất cứ một cơ sở tôn giáo nào ở Cần Đước. Chúng ta có thể giải thích cho thực tế này là từ tình hình chung đã có dấu hiệu mất ổn định trở lại từ sự kiện thế giới đã bắt đầu đi vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), riêng ở Cần Đước thì phong trào Cộng sản cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong xã hội và đã nổi dậy với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, dù đã bị thất bại nhưng vùng Cần Đước cũng đã không còn yên ổn như trước. Từ đó, tình hình cũng không thuận lợi để xây dựng chùa chiền, nhà thờ, thánh thất…
Thời kỳ 1945 -1954, mặc dù là thời kỳ thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam và đã nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng chúng ta thấy ở Cần Đước, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển với sự xuất hiện đều đặn của 06 ngôi chùa, gồm chùa Linh Phước (Long Hựu, 1946); chùa An Hòa (Tân Trạch, 1947); chùa Phật Bửu (Phước Vân, 1950); chùa Long Bửu (Long Khê, 1952); chùa Đông Sơn (Long Sơn, 1954); chùa Hưng Quang (Tân Lân, 1954).
Và đạo Cao Đài cũng tiếp tục phát triển với 05 thánh thất thuộc Hội thánh Bến Tre, gồm nhà tu Tân Trạch /1946/; thánh thất Long Trạch /1951/; thánh thất Long Khê /1952/; thánh thất Long Định /1952/; thánh thất Tân Trạch /1954/ và bắt đầu
xuất hiện 01 cơ sở thờ tự hệ Cao Đài Tây Ninh là đền thờ Phật Mẫu ở Phước Đông (1947), nay là thị trấn Cần Đước.
Chúng ta thấy các ngôi chùa Phật và các thánh thất Cao Đài xây dựng ở giai đoạn này tại Cần Đước có xu hướng phát triển lên ở các xã vùng Thượng. Và Cao Đài Tây Ninh mới bắt đầu bám rễ được ở Cần Đước trong lúc Hội thánh Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến Tre đã có 11 thánh thất từ vùng Hạ đến vùng Thượng Cần Đước.
Giai đoạn 1955-1975, thời chế độ Việt Nam cộng hòa
Mặc dù đây là một giai đoạn đầy biến động ở miền Nam, chiến tranh rất ác liệt, nhưng trong giai đoạn này ở Cần Đước, chùa chiền Phật giáo vẫn xuất hiện đều đặn gần như năm nào cũng có và cũng rải khắp địa bàn huyện với 19 chùa, đặc biệt ở xã Phước Đông có thêm đến 06 chùa, xã Mỹ Lệ có thêm 04 chùa. Riêng ấp Xóm Chùa, xã Tân Lân đến năm 1967 đã có 04 ngôi chùa.
19 chùa, gồm chùa Phước Linh (Phước Đông, 1955); chùa Hưng Cần (Phước Đông, 1957); chùa Phật Quang (Tân Lân, 1958); chùa Từ Ân (Long Khê, 1958); chùa Long Hoa (Long Trạch, 1960); chùa Vạn Phước (Phước Đông, 1961); chùa Pháp Hòa (Mỹ Lệ, 1963); Tân Quang Viện (Tân Lân, 1967); chùa Pháp Minh (Mỹ Lệ, 1969), Tịnh xá Phụng Hoàng (Long Hựu, 1969); chùa Tường Quang (Phước Tuy, 1970); chùa Hưng Hòa (Mỹ Lệ, 1970); chùa Thiên Sơn (Long Sơn, 1970); chùa Phổ An (Long Trạch, 1970); chùa Linh Phước (Mỹ Lệ, 1972); chùa Long Phước (Long Hòa, 1972); chùa Quan Âm, Tịnh thất Phước Đức (Phước Đông, 1972); Tịnh xá Phổ Hiền (Phước Đông, 1975)
Giai đoạn 10 năm sau ngày thống nhất đất nước (1975-1985) là giai đoạn được quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thì mọi hoạt động tôn giáo đi vào tình trạng trầm lắng. Suốt
10 năm chỉ ghi nhận có thêm 3 cơ sở tôn giáo là Tịnh thất Tam Bửu, xã Phước Vân, 1976; nhà thờ Tin Lành Việt Nam, xã Long Hựu Đông /1981/ và chùa Liên Trì, xã Long Khê, 1983.
Giai đoạn từ 1986 trở đi là thời kỳ đổi mới, nên tư duy quản lý đối với tôn giáo cũng cởi mở hơn trước. Về Phật giáo, từ 1992 đến 1996 có thêm 04 chùa là chùa Phổ Minh, xã Phước Vân, 1992; chùa Huệ Đăng, 1992; chùa Tân Long, 1993 ở thị trấn Cần Đước; chùa Tào Khê, xã Long Khê, 1996 và đến đây thì không còn thêm chùa mới nữa từ chủ trương chung.
Như vậy, tính từ sau năm 1986 với chính sách đổi mới, sinh hoạt tôn giáo ở Cần Đước đã khởi sắc. Tất cả các cơ sở thờ tự tôn giáo đều đã được đầu tư xây dựng mới chưa từng có trong lịch sử phát triển tôn giáo ở địa phương. Phật giáo đã bám rễ vào dân cư rất sớm từ thế kỷ XVIII, cùng theo đó là đạo Công giáo. Bước vào thế kỷ XX là sự xuất hiện của đạo Cao Đài và đạo Tin Lành.
Đạo Phật có hệ thống chùa chiền có mặt khắp các xã, nhiều nơi tập trung rất nhiều chùa, như thị trấn Cần Đước, xóm chùa Tân Lân. Nhiều ngôi cổ tự trăm năm tuổi, có giá trị kiến trúc văn hóa cao như chùa Phước Lâm, xã Tân Lân, được công nhận là Di

tích Văn hóa lịch sử cấp quốc gia, và cũng là tổ đình của dòng Lâm Tế. Các chùa ở Cần Đước phần lớn đều theo dòng Lâm Tế, hệ phái Phật giáo Cổ truyền Tịnh Độ tông.
Chùa ở Cần Đước xưa thường do tư nhân xây dựng, nên có chủ chùa. Chủ chùa có ảnh hưởng lớn đối với chùa và cũng có trách nhiệm đối với chùa. Có những lúc do hoàn cảnh khó khăn, chủ chùa giao chùa cho chính quyền, nên gọi là chùa làng, như chùa Quang Minh, xã Tân Lân. Có những chùa được xây dựng từ gốc là chùa Mục đồng rồi dần phát triển lên. Từ buổi đầu, chùa cũng tọa lạc gần sông rạch, từ thế kỷ XX trở đi do giao thông bộ đã phát triển nên chùa được xây dựng gần đường hơn. Chùa xưa ở Cần Đước thờ rất nhiều tượng Phật, Bồ tát như Thích ca, Quan Âm, Di Đà, ông Thiện ông Ác, Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma… Sau này, các chùa mới thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, thì chỉ thờ tượng Phật Thích Ca trong chánh điện…
Sau ngày đất nước thống nhất, nhất là khi có Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thì Phật giáo ở Cần Đước cũng đã có một bước phát triển mới từ cơ sở chùa chiền được xây dựng tốt đẹp hơn. Về cơ bản, đội ngũ tu sĩ có trình độ học vấn khá, được đào tạo cơ bản ở các trường Phật học ở huyện, tỉnh, trung ương và không có gia đình như xưa. Vai trò chủ chùa cũng không còn. Đất đai của chùa đã được hợp thức về mặt pháp lý, giấy Quyền sử dụng đất đều thống nhất do chùa đứng tên. Việc hoằng hóa Phật pháp được mở rộng, trình độ hiểu biết của Phật tử có nâng lên.
Ngoài ra, việc nhập thế của Phật giáo Cần Đước ngày càng rõ nét qua các hoạt động từ thiện giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn, neo đơn, cung cấp các bữa ăn từ thiện ở các cơ sở y tế điều trị bệnh, các cuộc vận động lớn giúp đỡ nạn nhân bị thiên tai bão lũ… Sự hợp tác giữa Phật giáo và chính quyền ngày càng tin cậy, gắn bó góp phần mang lại nhiều kết quả thiết thực cho sự phát triển và bình an trong xã hội. Uy tín của Phật giáo Cần Đước ngày càng nâng cao đối với chính quyền và nhân dân.
![]()
