GIA TÀI CỦA CHA
THÍCH TRÚC THÁI THẬT

Thế gian có nhiều loại gia tài, đó có thể là của cải vật chất, có thể mối quan hệ xã hội, cũng có thể là gia tài kiến thức. Nhưng những gia tài đó liệu có bền lâu, có thể mang lại cho người thừa hưởng hạnh phúc lâu dài, vô lo vô nghĩ hay không? Sự thật thì khác. Những gia tài đó có thể khiến con người ta ưa thích, say đắm, tự hào nhưng luôn kèm theo bao nhiêu hiểm họa ẩn tàng và không biết khi nào nó sẽ tan biến như ảo ảnh trong đêm đen. Gia tài của cải có thể khiến con người ta trở nên ỷ lại, kiêu ngạo và đánh mất bản thân để rồi đắm chìm trong trụy lạc xa hoa cho đến khi tán gia bại sản, thì gục ngã không thể đứng dậy. Chưa kể đến nó là đầu mối của một sự đố kỵ, ghen ghét, khiến cho quyến thuộc, bạn bè trở mặt thành thù để rồi gây đau khổ cho nhau. Hoặc nếu có thể thừa hưởng được rồi làm rạng danh gia tộc, tổ tiên, gầy dựng được sự nghiệp vững bền, một đời huy hoàng nhưng cuối cùng cũng chỉ còn lại vài dấu vết nhạt nhòa trên bia mộ. Hơn nữa, Phật há chẳng dạy: “Của cải là tài sản của năm nhà” hay sao?
Còn mối quan hệ thì sao? Liệu có bền vững? Thật ra, tâm của con người mới là thứ khó tin nhất. Đức Phật thường dạy: “Tâm vô thường”. Tuy vậy, cũng có người vì ân đức cố nhân mà hết lòng báo đáp, nâng đỡ. Nhưng nếu chúng ta vì thế mà sanh kiêu ngạo, ỷ lại thì ân tình dù lớn cũng tan thành khói mây. Hơn nữa, thế gian nhân quả theo nhau, còn nợ thì còn trả, hết nợ thì đường ai nấy đi. Như xưa có chuyện của Hòa Thân đấy, vì duyên nợ với Càn Long mà một bước lên mây, khuynh đảo cả quốc gia, nhưng cuối cùng vẫn không thoát được kết cục thê thảm. Dựa vào gia tài như vậy liệu có bền lâu?
Gia tài kiến thức nghe có vẻ cao quý, nhưng mấy người có thể kế thừa trọn vẹn, lắm khi nó lại trở thành gánh nặng cho hậu nhân. Còn nếu có thể thừa kế được thì dễ sanh sự kiêu ngạo, thấy người khác không bằng mình. Từ đó nhiều khi lại tự chướng ngại chính mình, khó hấp thụ được những cái hay của kẻ khác. Nhà Phật gọi là “Sở tri chướng”. Chưa kể, từ đó lại khiến kẻ dưới ghen ghét, người trên coi thường, gây ra bao nhiêu sự tranh đấu, làm khổ cho nhau. Khuất Nguyên vì sao lại trầm mình? Lý Tư vì sao bị tứ mã phanh thây? Sách xưa còn đó, há không phải vì thấy mình hơn người hay sao? Vì thế, gia tài thế gian là thế ấy, đã không lâu bền mà lại còn là hiểm họa. Vậy đâu mới là gia tài thật sự, một gia tài mà ai cũng có, một gia tài dùng hoài chẳng hết?
Chàng Cùng tử và Trưởng giả
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Tín Giải, có một thí dụ rất hay, xin được tóm tắt lại như sau:
Ngày xưa có một ông trưởng giả giàu có bậc nhất. Ông có một đứa con trai duy nhất, nhưng từ nhỏ đã bỏ nhà ra đi. Chàng lang thang khắp nơi, sống cảnh nghèo khổ, xin ăn qua ngày, hoàn toàn quên mất gốc gác của mình.
Sau bao năm tìm kiếm, ông trưởng giả cuối cùng cũng gặp lại con tại cổng nhà. Nhưng chàng cùng tử quá sợ hãi và tự ti, tưởng
ông muốn hại mình nên hoảng loạn bỏ chạy. Ông không ép buộc, mà sai người nhẹ nhàng mời chàng ở lại làm việc thấp kém với tiền công ít ỏi. Chàng nhận lời vì nghĩ mình chỉ đáng làm những việc hèn mọn.
Dần dần, ông giao cho chàng những công việc quan trọng hơn: trông nom kho tàng, quản lý tài sản. Nhờ đó, chàng trở nên tự tin, vững vàng và trung thành. Nhiều năm sau, khi đã già yếu, ông triệu tập họ hàng và tuyên bố trước mọi người: “Người này chính là con ruột của ta. Tất cả tài sản này từ nay thuộc về nó.”
Cuộc sống của chúng ta hiện tại, trông có vẻ khá ổn, nhưng thực tế lại rất bấp bênh và khó đoán. Chúng ta có thể cảm thấy phấn khởi, cảm thấy có niềm tin và động lực rất nhiều trong cuộc sống. Cũng có rất nhiều người khi sức trẻ đang lên, họ thường nghĩ đến một tương lai tốt đẹp, tin rằng sớm một ngày đạt được những thành tựu lẫy lừng trong cuộc sống. Nhưng ngẫm lại thì liệu có khác gì chàng Cùng tử đang mong chờ vào ngày mai sẽ xin được vật thực đầy đủ, một ngày được ấm no, thỏa lòng không?
Thực tế cũng vậy, cuộc sống của người thế gian luôn cần có động lực, nếu không có động lực thì không khác gì một cỗ máy cũ kỹ vứt ở trong xó. Mục đích và niềm tin chính là động lực thúc đẩy con người ta bước đi trong đoạn đường đời ngắn ngủi này. Khi con người ta đạt được mục đích, họ có thể sẽ cảm thấy vui, sẽ cảm thấy thỏa mãn chốc lát, rồi sau đó lại bị lấp đầy bởi cảm giác trống rỗng. Lạ kỳ thay, chính cảm giác trống rỗng này lại khiến con người ta lạ lẫm, bất an nên họ phải kiếm một cái gì khác, một mục tiêu khác để theo đuổi, để lấp đầy những khoảng trống đáng sợ này. Giống như nhà triết gia Descartes đã nói: “Tôi suy nghĩ nên tôi tồn tại”. Họ sợ phải đánh mất cái tôi của mình.
Trong cuộc sống cũng có rất nhiều câu chuyện tương tự, và điển hình nhất là những kẻ vì lòng hận thù sâu nặng, cả cuộc đời chỉ lấy mục đích báo thù làm lẽ sống, không quan tâm đến
những thứ khác. Đến khi, mục đích của họ thành tựu, có thể họ sẽ hả hê một chút nhưng lại nhanh chóng bị cảm giác trống rỗng bao trùm. Lúc đó, họ giống như một bong bóng bị xì hơi, một con rối bị đứt dây, mất đi mục đích của cuộc đời. Hoặc ví như có người bị tiền tài làm cho mờ mắt, họ suốt ngày chỉ theo đuổi đồng tiền dù thực tế họ không cần nhiều đến thế. Nhưng vì tham nghiệp, họ chỉ cần biết kiếm thật nhiều tiền, không cần quan tâm đến người khác, thậm chí cả bản thân mình. Người đời gọi họ là nô lệ của đồng tiền.
Đó là trường hợp về một người chỉ chăm chăm theo đuổi một mục tiêu thì như thế, nhưng còn những người khác thì sao? Tại sao họ vẫn bình thường? Thực ra, người bình thường có quá nhiều thứ để theo đuổi trong cuộc sống. Họ có những mục tiêu quá cao xa mà không biết bao giờ mới có thể thành tựu. Nội hai chữ danh và lợi thôi đã khiến người ta quay cuồng không lối thoát rồi, huống chi là mật ngọt của ngũ dục. Vì nó, mà chúng ta sẵn sàng quên đi những nguy hại của sanh tử, nguy hại của tứ đại, của vô thường. Cứ như thế, họ một đời bôn ba, một đời theo đuổi những ảo mộng Nam Kha, cho đến khi nhận ra mình không còn đủ sức nữa, để rồi phải dừng lại trong sự tiếc nuối khôn nguôi. Chàng Cùng tử cũng như thế, chàng tìm mọi cách để hôm nay được no đủ, nhưng no đủ chưa bao lâu lại phải tiếp tục lo cho bữa tiếp theo. Cứ như thế, dù nắng hay mưa, dù bị người đời khinh miệt, hắt hủi nhưng vẫn phải lê tấm thân tàn tạ bôn ba khắp nơi để xin một chút vật thực nhằm lấp đầy cái cơn đói thiếu vô tận này mà quên đi vốn dĩ xưa nay mình chưa từng thiếu thốn.
“Sai một ly, đi một dặm”. Cùng tử cũng thế, một bước ra đi, cố hương cách vạn dặm. Không gì khổ bằng một kẻ lạc lối, không biết đi đâu về đâu, tha hương cầu thực nơi đất khách quê người. Chúng ta thì sao, liệu thực sự đã ổn với những gì mình gây dựng nên, hay tất cả chỉ là một lâu đài cát trong sự bình yên trước cơn bão. Trong thế giới này, có bao nhiêu cảnh đang yên
đang lành bỗng dưng phút chốc tan nhà nát cửa, người thân ly tán. Thiên tai, nhân họa… có biết bao thứ khiến cuộc sống chúng ta trở nên bất ổn, bấp bênh? Vậy đâu mới là nơi chúng ta an thân lập mạng? Nơi đâu mới gọi là chốn quê nhà?
Gia trung hữu bảo
“Thôi về đi, đường trần đâu có gì…” (Phôi pha)
Một câu hát nhẹ nhàng của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhưng chất chứa cả một đời người, một đời đầy sóng gió và những lần lạc mất chính mình. Cả một cuộc đời, nói dài không dài, nói ngắn không ngắn, nhưng chúng ta đã thực sự sống vì điều gì? Chúng ta đã thực sự sống vì mình chưa? Sống thực với chính mình chưa? Hay là chúng ta bị ba nghiệp sai sử, rồi đổ lỗi cho ngoài ý muốn. Thuận theo cái tôi thì cho là may, là phước, trái với bản ngã thì bảo là nghiệp, là xui. Rồi cứ như thế quẩn quanh trên con đường trần đầy cạm bẫy. Tự mình làm khổ mình, tự mình đày đọa mình không lúc nào thôi dứt. Vậy phải về đâu? Về đâu trong cái nhà lửa ba cõi này?
May thay, trong bùn lại có sen, trong đá lại có ngọc, trong mê lại có giác. Vì thế trong số những kẻ cắm đầu chạy theo nghiệp vẫn có những người bất chợt biết dừng lại. Ngay khi họ thoát khỏi sự kiểm soát của nghiệp lực và nhìn thấy những con người mỏi mệt đang bị nghiệp dẫn dắt lao đi một cách vô định. Họ chợt nhận ra những gì xưa nay chúng ta đã làm đều vô nghĩa. Giống như kẻ mò trăng đáy nước, trăm năm nhọc nhằn rốt cuộc vẫn trắng tay. Ngay lúc đó, họ mới là chính mình, mới chợt thấy bóng dáng của cố hương…
Vua Trần Nhân Tông, vị vua “mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm” đã có một bài kệ rất hay. Một bài kệ tóm kết lại cả mười hồi của tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo Phú
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Hai nhu cầu thiết yếu nhất của con người là ăn uống và ngủ nghỉ. Nếu đời chỉ đơn giản như vậy, thì lẽ ra thế giới này đã không nhiều biến động đến thế. Ai cũng muốn mưu cầu hạnh phúc, nhưng lại đi tìm những thứ vốn dĩ không thuộc về mình – những thứ mà kinh Kim Cang gọi là “mộng, huyễn, bào, ảnh”. Chúng lấp lánh trước mắt, nhưng khi đưa tay bắt lấy thì chỉ như khói như sương.
Ta để những niềm vui tạm bợ che lấp sự sáng suốt nơi chính mình. Khi chúng tan biến, chỉ còn lại sự trống rỗng – cái vốn dĩ là bản chất của các pháp. Thay vì nhận ra điều đó, ta phủ nhận, sợ hãi và tiếp tục đuổi theo phiền não, cố níu giữ những ảo ảnh không thực. Nhìn kỹ, chẳng khác gì Cùng tử gặp Cha mà lại sợ hãi, tự ti rồi tìm mọi cách né tránh. Thật đáng buồn.
Xét cho cùng, vì ta bôn ba nơi đất khách quê người quá lâu, giao vận mệnh cho gió nghiệp để nó thổi ta rong ruổi khắp ba cõi. Đến khi chợt dừng chân nơi cố thổ, ta lại dễ dàng bỏ qua mà tiếp tục chuyến hành trình vô định. Trong nhà tuy có báu, nhưng mấy ai biết dùng.
Trong Tây Du Ký, dù Ngộ Không có một bước vượt tám vạn bốn ngàn dặm, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ. Cũng vậy, dù ta có trôi lăn trong sanh tử đến số kiếp không thể nghĩ bàn đi chăng nữa, thì cứ mỗi khi dừng lại, liền đứng trên đất quê nhà. Nhưng quan trọng vẫn là làm sao để chấp nhận ngừng bôn ba mà thừa hưởng cái của báu trong nhà này?
Nhà Phật có rất nhiều phương tiện, rất nhiều pháp môn, nhưng tất cả đều chỉ nhằm vào việc dừng cái “tâm viên ý mã” này. Dừng để làm chi? Dừng để nhìn lại. Dừng để nhận ra mảnh tâm địa ban đầu này, giống như Cùng tử, gặp lại Cha rồi cũng
không chịu nhận, nói đúng hơn là Cùng tử không dám nhận cái vốn thuộc về mình. May có người cha vì yêu thương con mà tìm mọi cách, mọi phương tiện để dìu dắt, để đánh thức cái niềm tin của đứa con đã đánh mất bấy lâu.
Cũng vậy, về nhà là một chuyện, nhưng chịu yên bề gia thất, thừa hưởng gia tài được hay không lại là một câu chuyện khác. Làm khách trần lâu rồi cũng thành thói, khó bề chịu yên. Tìm kiếm những thứ hư vọng phù phiếm là nghiệp chúng sanh. Truy tìm những thứ thuộc về ngũ dục thì không nói, nhưng đã ở trên cố thổ rồi mà vẫn cố tìm kiếm cái gọi là quê nhà. Thật giống như kẻ đã ngồi trên con bò rồi mà vẫn cưỡi bò chạy khắp nơi tìm con bò bị thất lạc. Phật dùng từ “chúng sanh điên đảo” quả không sai. Con người ta đến lúc thôi truy tìm những thứ phàm tục bên ngoài, rồi lại tự lấy mình làm mục tiêu để đi tìm chính mình. Vậy bao giờ mới thôi nghỉ. Chưa kể đến những trường hợp, tự thấy bóng mình trong nước rồi tự nhận là đã thấy. Mắt làm sao tự thấy? Tai há có thể tự nghe? Trước đã lầm nay còn lầm hơn.
Vì thế, tinh túy của cả một bài phú dài đến chín hồi, vẫn là câu: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm”. Chỉ cần chịu dừng lại, chỉ cần thôi tìm kiếm, thì tự nhiên sẽ thấy mọi thứ xưa nay tự thân nó đã đầy đủ. Chỉ có những kẻ hay tìm cầu, thì mới thấy túng thiếu mà thôi. Nếu khách nhân muốn hỏi khi dừng lại, thì thế nào? Xin mượn nhờ hai câu kệ của ngài Pháp Loa vậy:
Nhắn nhủ mọi người thôi chớ hỏi
Bờ kia trăng gió rộng thênh thang – (HT Thanh Từ dịch)
Thân nghèo, Đạo chẳng nghèo
Gia tài của cha, thứ gia tài mà chúng sanh nào cũng có, nhưng lại không chịu nhận. Vì không chịu nhận, nên lúc nào cũng thấy túng thiếu, rồi tự đày mình vào khổ nhọc để đổi lấy chút thú vui thoáng chốc phù phiếm. Nhưng ngược lại, chính nhờ vào món gia

tài này mà hàng Đại Bồ tát này đi vào cõi ác ngũ trược mà giống như đi dạo chơi. Bởi vì, các ngài không bị tham lam làm cho thiếu thốn, không bị sân hận làm cho bức bách, không bị si mê làm cho đắm chìm, giống như một vị trưởng giả cao quý, chẳng bao giờ để mắt tới những viên ngói gạch ven đường.
Cũng vậy, những ai dùng được gia tài thật sự của mình sẽ không bị những thứ lấp lánh của thế gian làm cho mê hoặc, giống như thức ăn ngon không thể hấp dẫn người no bụng. Nếu tham tâm không khởi, làm gì còn túng thiếu? Tự thân đã đầy đủ, thì ngũ dục tầm thường há có thể động lay? Há chẳng thấy khi xưa vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng vào núi cầu Đạo, Bàng Long Uẩn đem cả gia tài đổ xuống sông. Những thứ mà thế gian yêu thích, bậc đại sĩ xem như đôi dép rách, sẵn sàng vứt bỏ. Tinh thần ấy cũng được thể hiện rõ trong Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác qua bản dịch của HT Thông Phương:
Hèn con Phật, miệng xưng nghèo,
Thật đấy thân nghèo, Đạo chẳng nghèo.
Nghèo ắt thân thường manh áo vá,
Đạo ắt tâm đầy vô giá châu.
Bậc cổ đức ngày xưa là thế đấy, sống đúng theo tinh thần “an bần thủ đạo” trong Bát Đại Nhân Giác. Có thể hoàn cảnh của họ trong mắt thế gian là khó chấp nhận, có thể họ phải đi khất thực qua ngày để dưỡng thân tạm bợ, nhưng họ lại không bị cái khổ của phiền não, khổ của sanh tử bức ngặt. Họ tuy nghèo về vật chất, nhưng không nghèo về tâm. Họ thiếu thốn tiện nghi, nhưng không thiếu thốn an lạc. Họ sống giữa đời mà không bị đời trói buộc. Người đời thấy họ thiếu thốn, nhưng họ lại thấy mình đầy đủ. Người đời thấy họ khổ, nhưng họ lại không có cái khổ mà thế gian đang mang. Bởi vì, cái khổ thật sự không nằm ở miếng cơm manh áo, mà nằm ở tâm bị phiền não sai sử. Cái nghèo thật sự không nằm ở vật chất ít ỏi, mà nằm ở việc không nhận ra gia tài của chính mình.
Thế mới biết, xưa nay những gì ta đang xây dựng đang tìm cầu, rốt cuộc cũng chỉ là dã tràng xe cát. Một đời nhọc nhằn mưu sinh, cuối cùng vẫn là tay trắng. Nghiệp chúng sinh là như thế, điên đảo một đời, quên mất của báu trong nhà. Nhưng cái gì giả tạm rồi sẽ tan biến, cái gì chân thật cuối cùng cũng sẽ phơi bày.
Đã bao giờ có ai từng hỏi, mình là Cùng tử hay là Trưởng giả chưa? Khi còn là Cùng tử thì sẽ có Trưởng giả, nhưng khi đã là Trưởng giả thì ai lại hỏi là Trường giả hay là Cùng tử. Cũng vậy, cả một đời bôn ba cơ cực, cả một hành trình dài để thừa hưởng gia tài của cha, nhìn lại khác nào một giấc mộng phù vân?
Sau cùng, xin mượn bốn câu kệ của Thiền sư Minh Chánh để thay cho lời kết:
Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng hiểu xưa nay không một vật
Công lao luống uổng một đời ai.
![]()
